TIỂU SỬ

CỐ ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH TỊNH KHIẾT

ĐỆ NHẤT TĂNG THỐNG GHPGVNTN

(1890-1973)

 

  • THÂN THẾ:

Hòa Thượng thế danh là NGUYỄN VĂN KỈNH. Ngài sinh ngày 17 tháng 11 năm Tân Mão (nhằm ngày 17.12.1890)(1) tại làng Dưỡng Mong Thượng, tổng Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Nay là thôn Dưỡng Mong, xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên.

Thân phụ của ngài là cụ Nguyễn Văn Toán, thân mẫu là cụ bà Tôn Nữ Thị Lý. Ngài là con thứ hai(2). Bào huynh là Hòa Thượng Trừng Hương – Tịnh Hạnh (chúng tôi chưa tìm thấy thế danh của ngài). Hòa Thượng Tịnh Hạnh sinh năm Kỷ Sửu, 1889; xuất gia năm Ất Tỵ, 1905; thọ Cụ-túc giới năm Canh Tuất, 1910; trụ trì chùa Tường Vân, Huế; viên tịch năm Quý Dậu, 1933.

  • THỜI NIÊN THIẾU:

Năm lên 9 tuổi (Canh Tý – 1900), ngài bắt đầu học chữ Nho. Bẩm tính vốn thông minh lại hiếu học, nên chỉ trong thời gian 6 năm miệt mài đèn sách, ngài đã tinh thông nhiều bộ sách căn bản của Nho Giáo.

Thân tướng ngài cao lớn dị thường (khi ngài đứng thẳng người, tay buông xuống thì dài quá đầu gối), tánh tình nghiêm nghị, trầm tư, ít nói, không hay câu nệ điều tiểu tiết. Vốn được sinh ra và lớn lên trong một gia đình thâm tín Tam Bảo, lại nghe lời cầu nguyện chí thành của song thân, nên tâm trí của ngài luôn mong muốn được xuất gia đầu Phật như bào huynh.

  • XUẤT GIA HỌC ĐẠO:

Năm 15 tuổi (Bính Ngọ – 1906), được song thân khuyến khích, ngài liền đến đảnh lễ Hòa Thượng Thanh Thái – Phước Chỉ (1858-1921), Đệ Tam Tổ trụ trì chùa Tường Vân, cầu xin thọ giáo. Được Tổ chấp nhận, ngài hết sức vui mừng vì bước đầu đã đạt thành sở nguyện. Sau khi vào tu, ngoài thì giờ chấp tác công việc trong chùa, thời gian còn lại, ngài đều dành hết vào việc học tập kinh luật nên chỉ có 3 năm sau khi xuất gia, ngài đã hoàn tất chương trình nội điển một cách xuất sắc – Một bước tiến khá vững vàng trên đường học đạo. Sự tiến bộ vượt bậc này một phần rất lớn là nhờ vào sự chăm nom, giáo dưỡng tận tình của Bổn Sư và một phần là nhờ tấm gương chuyên cần học tập và nhắc nhủ của bào huynh.

Cũng trong thời gian này, ngài được Bổn Sư thế độ cho thọ Sa-di giới và đặt Pháp danh là Trừng Thông, Pháp tự là Chơn Thường; thể nhập đời thứ 42 dòng thiền Lâm Tế Chánh Tông Trung Hoa, đời thứ 8 dòng thiền Thiệt Diệu Liễu Quán Việt Nam.

Năm 19 tuổi (Canh Tuất – 1910), cùng với bào huynh(4), ngài được đặc cách miễn tuổi cho thọ Tỳ-kheo Bồ-tát giới tại Giới Đàn chùa Phước Lâm ở Hội An, tỉnh Quảng Nam. Giới Đàn này được tổ chức vào ngày mồng 8 tháng 3 năm Canh Tuất (17.4.1910), do ngài Ấn Bổn Vĩnh Gia (1840-1918) trụ trì chùa Linh Ứng, Đà Nẵng làm Đàn Đầu Hòa Thượng; Hòa Thượng Thanh Minh – Tâm Truyền (1832-1911), trụ trì chùa Bảo Quốc, Huế làm Yết Ma; Hòa Thượng Hoàng Phú (?) làm Giáo Thọ. Đây là một Giới Đàn được tổ chức rất quy mô, các Giới Tử xuất thân từ Giới Đàn này, về sau đều là những bậc long tượng Tăng-già lỗi lạc của Phật Giáo Việt Nam, như quý Hòa Thượng Trừng Thành – Giác Tiên, Trừng Huệ – Giác Viên, Trừng Hương – Tịnh Hạnh, Trừng Thanh – Giác Bổn, Tâm Cảnh – Giác Hạnh v.v… Sau khi đắc giới trở về trú xứ, ngài phát nguyện lạy bộ “Vạn Phật” trong suốt ba năm liền, không một thời chểnh mảng.

Năm 26 tuổi (Đinh Tỵ – 1917), thể theo lời cung thỉnh của con cháu Tuy Lý Vương Miên Trinh (1820-1897) và được Bổn Sư chấp thuận, ngài về trụ trì chùa Phước Huệ ở thôn Vỹ Dạ, thuộc huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên.Tuy đã làm trụ trì, nhưng suốt 10 năm sau khi thọ đại giới, ngài vẫn không ngừng nỗ lực hành trì, tu tập kinh luật. Đến năm Canh Thân – 1920, ngài đắc pháp, được Bổn Sư ban pháp hiệu là Tịnh Khiết và phú pháp bài kệ:

Trừng Thông tâm pháp bản đồng nhiên

Phó nhữ Chơn Thường đạo chí kiên

Phi hữu phi vô phi sở kiến

Tịch nhiên khai ngộ chủ nhân tiền.

Giờ ngọ, ngày mồng 5 tháng giêng năm Tân Dậu, 1921 (niên hiệu Khải Định thứ 6, ngày 02.02.1921)(4), Hòa Thượng Thanh Thái – Phước Chỉ viên tịch. Sau thời gian cư tang Bổn Sư, ngài lại xin vào tham học với Hòa Thượng Thanh Tú – Tuệ Pháp tại Đạo Tràng chùa Thiên Hưng, Huế

Chân dung Đức Tăng thống, tranh Sơn dầu của Chơn Thuần

  • SỰ NGHIỆP HOẰNG PHÁP:

Mở đầu cho sự nghiệp hoằng pháp vô cùng lớn lao của ngài là vào năm Giáp Tý – 1924, một Đại Giới Đàn tổ chức tại chùa Từ Hiếu, ngài cùng quý Hòa Thượng Trừng Thành – Giác Tiên, Trừng Thủy – Giác Nhiên và Trừng Hương – Tịnh Hạnh được cung thỉnh làm Kiến Đàn. Sự kiện này đã được Hòa Thượng Trừng Nguyên – Đôn Hậu ghi lại trong tập hồi ký “Trên Những Chặng Đường”, có đoạn như sau: ”Hòa Thượng Tịnh Khiết là một trong bốn vị Dẫn Thỉnh cho tôi được thọ Đại Giới”.

Chân dung ngài vào thập niên 1930

Năm Quý Dậu – 1933, Hòa thượng Trừng Hương – Tịnh Hạnh, trụ trì chùa Tường Vân viên tịch, Môn Phái cung thỉnh Hòa Thượng đảm nhận chức vị trụ trì kế tiếp bào huynh.

Đầu năm Ất Hợi – 1935, Sơn Môn Tăng-già Thừa Thiên mời ngài giảng dạy và quản nhiệm lớp Trung Đẳng Phật Học tại chùa Tường Vân, một thời gian sau đó thì lớp này được chuyển lên sát nhập vào Phật Học Viện Tây Thiên.

Năm Mậu Dần – 1938, sau khi xây dựng xong chùa Hội Quán Từ Đàm, An Nam Phật Học Hội cung thỉnh Hòa Thượng kiêm nhiệm trụ trì và Chứng Minh Đạo Sư cho Hội.(5)

Đây cũng là thời kỳ Hòa Thượng thường giao lưu thân thiết với chư vị tôn túc trong Sơn Môn, như với Hòa Thượng Đạo Chơn – Chánh Thống, Hòa Thượng Trừng Thanh – Giác Bổn v.v… Ngoài ra, ngài còn có một người bạn tâm giao nữa là chí sĩ Sào Nam – Phan Bội Châu, lúc bấy giờ cụ Phan đang bị thực dân Pháp đưa về “an trí” tại Bến Ngự nên cụ thường lui tới viếng thăm và đàm đạo với Hòa Thượng. Trong một dịp cụ Phan vào chùa vấn đạo, Hòa Thượng đã biếu cụ một cây hoa ngọc lan để cụ đem về trồng nơi cụ đang bị “an trí”. Sau đó, Phan tiên sinh đem tặng Hòa Thượng một bài thơ tán thán mật hạnh vô vi của Ngài như sau:

Tiền thân chủng xuất tự bồng lai

Di hưởng bồ đề viện lý tài

Tố nhụy quang tranh đông dạ tuyết

Kỳ phương phẩm đoạt lãnh đầu mai

Hương chân vương giả thiên thùy thưởng

Trang tỷ thường nga nguyệt ám xai

Duy Phật tùng lai năng thức Phật

Ân cần huệ ngã thử hoa khai.

Năm Canh Thìn – 1940, Sơn Môn Tăng-già Thừa Thiên cung thỉnh Hòa Thượng làm Giám Đốc Đạo Hạnh cho Viện Cao Đẳng Phật Học tại chùa Bảo Quốc. Đây là một trung tâm đào tạo Tăng tài cao nhất của Phật Giáo miền Trung lúc bấy giờ. Phật Học Viện đã mở đến lớp Siêu Đẳng và chương trình giảng dạy dự kiến sẽ kéo dài đến 10 năm.

Tuy nhiên, vào năm Giáp Thân – 1944 thì Viện Cao Đẳng này cũng đã kết thúc chương trình học cho toàn thể Học Tăng sớm hơn dự kiến trước khi được dời lên Đại Tòng Lâm Kim Sơn ở thôn Lựu Bảo, xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. (Đại Tòng Lâm này nằm cách chùa Thiên Mụ khoảng 2 km về hướng Tây Bắc).

Các Học Tăng xuất thân từ Viện Cao Đẳng này, về sau đều là những bậc Tăng-già lỗi lạc của ngôi nhà Phật Giáo Việt Nam hiện đại, như quý Hòa Thượng Trí Quang, Thiện Siêu, Thiện Minh, Trí Tịnh, Trí Thành, Trí Thuyên, Thiện Hoa, Hành Trụ v.v… Qua năm Ất Dậu – 1945 thì Đại Tòng Lâm Kim Sơn cũng phải giải thể vì những biến động chính trị đang liên tiếp xảy ra trên khắp đất nước.

Trở lại giữa năm Giáp Thân – 1944, Sơn Môn Tăng-già Thừa Thiên cung thỉnh Hòa Thượng làm Yết Ma cho Giới Đàn tại chùa Thuyền Tôn. Giới Đàn này Hòa Thượng Trừng Thủy – Giác Nhiên, trụ trì chùa Thuyền Tôn làm Đàn Đầu; Hòa Thượng Như Thông – Đắc Ân, trụ trì chùa Quốc Ân làm Giáo Thọ và là Giới Đàn được khai giới lần cuối cùng trước khi cuộc chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ vào cuối năm Bính Tuất, 1946. (Hòa Thượng Thích Mật Thể đắc Thủ Sa-di trong Giới Đàn này).

Đầu năm Đinh Hợi – 1947, đất nước Việt Nam chuyển mình qua một giai đoạn lịch sử đầy biến động, đông đảo chư vị Tăng-già và Cư Sỹ tâm huyết đều nhận thấy ở giai đoạn này Phật Giáo cần phải tìm phương tiện khế lý, khế cơ để điều hợp mọi năng lực cho công cuộc hoằng dương và hộ trì chánh pháp. Nhờ tinh thần dõng mãnh và chí nguyện son sắt của quý ngài mà “Sơn Môn Tăng Già Trung Việt” hình thành và toàn thể chư Tăng đại biểu ở miền Trung đã long trọng suy tôn Hòa Thượng lên ngôi vị TÒNG LÂM PHÁP CHỦ TRUNG VIỆT.

4 năm (1947-1951) ở ngôi vị Pháp Chủ, Hòa Thượng đã không ngừng nỗ lực cùng với An Nam Phật Học Hội xiển dương chánh pháp, đào tạo Tăng tài, tổ chức các Đạo Tràng Phật Học, các Khuôn Tịnh Độ, các đoàn thể thanh thiếu niên Gia Đình Phật Tử trên khắp 17 tỉnh miền Trung.

Có thể nói hơn 3 thập kỷ, kể từ khi cao trào Chấn Hưng Phật Giáo Việt Nam phát khởi, đến giai đoạn này, dưới sự lãnh đạo đầy uy đức và vô cùng khôn khéo của Hòa Thượng mà Phật Giáo tại miền Trung và Huế đã phát triển đến mức khả quan. Sự nỗ lực lớn lao ấy, cũng đã thúc đẩy mạnh mẽ cho tinh thần và hoạt động của các tập đoàn Tăng-già và Cư Sỹ khắp cả 3 miền Bắc-Trung-Nam Việt Nam càng thêm đoàn kết, gắn bó keo sơn.

Năm Kỷ Sửu – 1949, Sơn Môn Tăng-già Thừa Thiên cung thỉnh Hòa Thượng làm Đàn Đầu Hòa Thượng cho Đại Giới Đàn Hộ Quốc tại chùa Bảo Quốc, Huế với nhị vị Hòa thượng Trừng Thủy – Giác Nhiên, trụ trì chùa Thuyền Tôn làm Yết Ma, Hòa Thượng Tâm Ấn – Viên Quang, khai sơn chùa Pháp Uyển Châu Lâm, làm Giáo Thọ.

Đây là một Giới Đàn được tổ chức sau hơn 5 năm bị gián đoạn, kể từ Giới Đàn tại chùa Thuyền Tôn năm Giáp Thân, 1944.

Giới Đàn Hộ Quốc là nơi quy tụ rất nhiều Giới Tử học hạnh ưu tú, tài năng xuất chúng. Sự nghiệp của quý ngài đã góp phần làm nên một giai đoạn lịch sử vẻ vang cho Phật Giáo Việt Nam hiện đại, như quý Hòa Thượng Tâm Thị – Thiện Minh (1922-1978), Tâm Huệ – Thanh Trí (1919-1984), Nguyên Tánh – Đức Tâm (1928-1988), Tâm Phật – Thiện Siêu (1921-2001), Nguyên Cao – Mãn Giác (bút hiệu Huyền Không) (1929-2006), Hòa Thượng Thích Thiện Ân v.v…

 Chân dung Đức Tăng thống năm 1950

Đầu năm Tân Mão – 1951, Hòa Thượng chứng minh và chủ tọa hội nghị thành lập Giáo Hội Tăng Già Trung Việt tại chùa Linh Quang, Huế. Sự ra đời của Giáo Hội Tăng Già Trung Việt là một bước tiến vững chắc dưới sự lãnh đạo tối cao của Hòa Thượng. Hội nghị này không chỉ đã duyên khởi cho Giáo Hội Tăng Già Việt Nam và Giáo Hội Tăng Già hai miền Nam-Bắc tiếp tục ra đời sau đó, mà còn thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ của Phật Giáo Việt Nam trước sự kiềm chế khắt khe mà các chính quyền lúc bấy giờ vẫn áp đặt qua Đạo Dụ số 10.

Cũng trong năm này, Hội Nghị Phật Giáo Toàn Quốc Việt Nam được long trọng tổ chức tại chùa Từ Đàm, Huế từ ngày 1 đến ngày 4 tháng 4 năm Tân Mão (tức từ ngày 6 đến ngày 9.5.1951). 51 vị Đại Biểu của 6 tập đoàn Tăng-già và Cư sỹ (3 của Tăng-già và 3 của Cư Sỹ) đã đồng tâm, nhất trí “thống nhất Phật Giáo” cả 3 miền Bắc-Trung-Nam Việt Nam thành một Tổng Hội dưới danh hiệu TỔNG HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM (do bị kiềm chế bởi Đạo Dụ số 10, nên Phật Giáo Việt Nam ở giai đoạn này không được xưng danh là Giáo Hội). Hội nghị đã long trọng suy tôn Hòa Thượng lên ngôi vị HỘI CHỦ TỔNG HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM. Có thể nói, đây là lần đầu tiên trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam mới có một hội nghị được tổ chức trên bình diện quốc gia. Hội nghị không chỉ kế thừa mạng mạch truyền thống từ chư Lịch Đại Tổ Sư, mà còn thể hiện niềm tin sâu sắc cho Tăng Ni và Phật Tử vào tiền đồ hưng long của đạo pháp.

Vào ngày 1 tháng 5 năm Tân Mão (5.6.1951), trên cương vị Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, Hòa Thượng vào chứng minh và chủ tọa hội nghị thành lập Giáo Hội Tăng Già Nam Việt tại chùa Hưng Long ở đường Ngã Sáu, Chợ Lớn. Hội nghị đã suy tôn Hòa Thượng Đạt Thanh lên ngôi vị Pháp Chủ lâm thời, Thượng Tọa Đạt Từ làm Trị Sự Trưởng và Thượng Tọa Trí Ấn – Nhật Liên làm Tổng Thư Ký.

Đến ngày 7 tháng 8 năm Tân Mão (7.9.1951), Hòa Thượng được cung thỉnh ra chứng minh và chủ tọa hội nghị thành lập Giáo Hội Tăng Già Việt Nam tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Hội nghị đã suy tôn Hòa Thượng Tuệ Tạng lên ngôi vị Thượng Thủ.(6)

Qua năm Quý Tỵ – 1953, Đại Hội kỳ II Giáo Hội Tăng Già Nam Việt lại cung thỉnh Hòa Thượng vào chủ tọa hội nghị và chứng minh lễ suy tôn Hòa Thượng Thiện Hải – Huệ Quang lên ngôi vị Pháp Chủ Giáo Hội Tăng Già Nam Việt (Trong nhiệm kỳ I, 1951-1953, Hòa Thượng Đạt Thanh được cung thỉnh làm Pháp Chủ lâm thời. Ngài Đạt Thanh là Trưởng Đoàn Tăng Già Nam Việt ra tham dự Hội Nghị Phật Giáo Toàn Quốc Việt Nam tại chùa Từ Đàm, Huế năm Tân Mão, 1951).

Năm Bính Thân – 1956, Đại hội kỳ II Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam khai mạc tại chùa Phước Hòa, trú sở của Hội Phật Học Nam Việt và họp ở chùa Ấn Quang từ ngày 21 đến 25 tháng 2 năm Bính Thân, (tức từ ngày 1 đến ngày 5.4.1956). Trong nhiệm kỳ II, nhân sự của Tổng Hội có phần thay đổi, nhưng Đại Hội vẫn tin tưởng và thành kính cung thỉnh Hòa Thượng lưu lại ngôi vị Hội Chủ. Đại Hội đã suy tôn Hòa Thượng Thiện Hải – Huệ Quang làm Phó Hội Chủ. (Đại Hội này, tuy được tổ chức trong thời kỳ đất nước bị qua phân, nhưng phần đông chư Tăng trong Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt và Hội Việt Nam Phật Giáo Bắc Việt đã di cư vào Nam, nên vẫn có đầy đủ cả 6 tập đoàn).

Đây cũng là thời kỳ Phật Giáo tại miền Nam Việt Nam đang bị chính quyền Ngô Đình Diệm chủ trương tiêu diệt nên Phật Giáo Đồ nhiều nơi đã bị đàn áp, khủng bố. Tình hình đang có những diễn biến phức tạp và bất lợi cho Phật Giáo. Biện pháp rất trắng trợn và lộ liễu đầu tiên của chính quyền Ngô Đình Diệm là phủ nhận ngày đại lễ Phật Đản bằng cách loại bỏ ngày này ra khỏi danh sách các ngày lễ lớn của quốc gia được nghỉ trong năm.

Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo tối cao và vô cùng sáng suốt của Hòa Thượng, mọi hoạt động của Phật Giáo vẫn không ngừng phát triển. Tờ Nguyệt San Phật Giáo Việt Nam, cơ quan hoằng pháp của Tổng Hội ra đời, và những buổi phát thanh chương trình Phật Giáo trên Đài Phát Thanh Sài Gòn lúc bấy giờ đã tạo niềm tin vững chắc cho Tăng Ni và Phật Tử vào ngôi vị lãnh đạo tối cao của ngài.

Vào ngày 10.11.1956, với tư cách Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, Hòa Thượng cùng với Hòa Thượng Phó Hội Chủ Thiện Hải – Huệ Quang hướng dẫn phái đoàn Phật Giáo Việt Nam sang tham dự Hội Nghị Phật Giáo Thế Giới lần thứ IV tại Népal. Sau khi hội nghị bế mạc, Hòa Thượng cùng phái đoàn trở về thủ đô New Delhi, quan sát Hội Nghị Văn hóa Thế Giới, xem cuộc triển lãm nghệ thuật Phật Giáo và đi chiêm bái nhiều Phật tích ở Ấn Độ.

Trong dịp này, Hòa Thượng có cảm tác hai bài thơ chữ Hán, nội dung như sau:

  1. Đạp tuyết phong vân quá hải hà

Du du hốt kiến lâu đài đa

Bảo tháp thất tầng kim tú lệ

Bồ đề thiên trượng ngọc bích hoa

Cảnh tối thâm u tần đáo tự

Duy thường ái tịch niệm Thích Ca

Nhân duyên Bồ Tát khai phương tiện

Nhiếp tận chúng sanh lễ Phật Đà.

 

  1. Lâm quang tịnh mậu trước thi biên

Phật quốc ký du hữu đại duyên

Tận địa kim ngân triệt vũ trụ

Thanh phong châu ngọc mãn nhân gian

Bồ đề thành đạo trang nghiêm cảnh

Lộc Uyển sơ niên chuyển pháp tiên

Ấn Độ hoa khai chân tịnh xứ

Kỳ Viên trùng kiến tợ thiền thiên.

Năm Kỷ Hợi – 1959, Đại Hội kỳ III Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam họp tại chùa Ấn Quang, Sài Gòn. Thêm một lần nữa, chư tôn đức trong hội nghị vẫn tin tưởng và thành kính cung thỉnh Hòa Thượng tiếp tục đảm nhận ngôi vị Hội Chủ.

Sau Đại Hội này thì mọi sinh hoạt của Phật Giáo ngày càng chịu nhiều áp lực từ phía chính quyền. Những cuộc đàn áp, khủng bố liên tiếp xảy ra, nặng nề nhất là ở các tỉnh thuộc Trung Nguyên và Cao Nguyên Trung Phần Việt Nam như Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Ban Mê Thuột v.v…

Trước tình hình nghiêm trọng ấy, vào ngày 2.2.1962 (6.1 Nhâm Dần), nhân danh Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, Hòa Thượng đã ký một lúc 2 văn thư gởi cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm và cho Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa, trong đó có đính kèm một tập hồ sơ ghi hơn 50 vụ Phật Giáo Đồ bị khủng bố, đàn áp tại các tỉnh nói trên. Trong văn thư, Hòa Thượng đã có lời chân thành khuyến cáo Tổng Thống và Quốc Hội: “Tôi muốn tránh cho lịch sử dân tộc một chấm đen, đồng thời muốn ngăn ngừa một tai họa cho quốc gia, khi mà hàng Phật Tử thấy cần bảo vệ đúng mức tôn giáo của mình”.

Thế nhưng chính quyền Ngô Đình Diệm chẳng hề quan tâm đến những lời lẽ chân thành – nhưng cũng không kém phần cương quyết của ngài. Sự khủng bố, đàn áp lại càng diễn ra khốc liệt hơn. Vì thế, cuộc đấu tranh của Phật Giáo giữa mùa hè năm Quý Mão – 1963 đã bùng phát mạnh mẽ.

Hai ngày sau vụ đàn áp đẫm máu tại Đài Phát Thanh Huế, Bản Tuyên Ngôn 5 điểm của 5 cấp Trị Sự lãnh đạo Phật Giáo Việt Nam được long trọng công bố tại chùa Từ Đàm, Huế vào ngày 10.5.1963, đã chính thức “mở màn” cho đại cuộc đấu tranh.

Suốt 178 ngày đêm diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt của Phật Giáo Việt Nam, trên cương vị lãnh đạo tối cao, bằng trí tuệ, tài năng và đức độ cao thâm của một bậc Tăng-già 72 tuổi, Hòa Thượng đã dấn thân không mỏi mệt để dẫn dắt cho phong trào. Dù bị bạo quyền giam giữ, đọa đày, dù phải chịu đựng vô vàn gian khó, nhưng Hòa Thượng vẫn luôn đồng cam cộng khổ cùng chư tôn đức Tăng Ni và Phật Tử để lèo lái cho phong trào đến ngày thành tựu.

Ngày 1.11.1963, cuộc đấu tranh kết thúc thành công, đã mở ra cho Phật Giáo Việt Nam con đường phát triển đầy sinh lực.

  • NGÔI VỊ TĂNG THỐNG:

Ngày 4.1.1964, Đại Hội của 11 Giáo Phái và Hội Đoàn Phật Giáo Nam-Bắc Tông đã long trong tổ chức tại chùa Xá Lợi, Sài Gòn. Đại Hội đã đồng tâm nhất trí thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Bản Hiến Chương của Giáo Hội ra đời, đã kế tục một cách tốt đẹp tinh thần “thống nhất” của Hội Nghị Phật Giáo Toàn Quốc Việt Nam tại chùa Từ Đàm, Huế năm Tân Mão, 1951. Đại Hội cũng đã long trọng suy tôn Hòa Thượng lên ngôi vị ĐỆ NHẤT TĂNG THỐNG GÍAO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT.

Cũng trong năm Giáp Thìn – 1964, Đức Tăng Thống được cung thỉnh làm Đàn Đầu Hòa Thượng tại Đại Giới Đàn được tổ chức tại Việt Nam Quốc tự, Sài Gòn.

Ngôi vị Tăng Thống – là kết tinh công hạnh của ngài đã tận tụy suốt đời trong sứ mệnh phụng sự đạo pháp, dân tộc, nhân loại và chúng sinh.

9 năm (1964-1973) ở ngôi vị lãnh đạo tối cao này, ngài đã nhiếp phục được nội ma, ngoại chướng và vô cùng sáng suốt để lèo lái con thuyền Giáo Hội đến một thời kỳ hưng thịnh, đóng góp xứng đáng công sức vào trang lịch sử vàng son của Phật Giáo Việt Nam thời hiện đại.

9 năm Hòa Thượng ở ngôi vị Tăng Thống, cũng là 9 năm đất nước Việt Nam đắm chìm trong khói lửa của cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn giữa hai miền Nam-Bắc. Chắc chắn ngài thấy rõ và biết rõ hơn ai hết nỗi thống khổ của hàng triệu sinh linh.

Vì thế, trong suốt nhiều năm, bằng uy đức và hạnh nguyện của một vị lãnh đạo tôn giáo tối cao, Hòa Thượng đã không ngừng kêu gọi các nhà lãnh đạo đất nước, các thế lực tham chiến hãy chấm dứt chiến tranh, hóa giải hận thù và lập lại hòa bình để đem lại sự sống còn cho dân tộc, cho đất nước.

Trong Thông Điệp Đầu Xuân năm Mậu Thân – 1968, có đoạn ngài kêu gọi: “Tôi kêu gọi toàn thể đồng bào Việt Nam hãy sáng suốt để tự cứu mình và cứu dân tộc. Sự chia rẽ tôn giáo, đảng phái, địa phương là mối nguy lớn làm tê liệt dân tộc ta, làm cho chúng ta mất chủ quyền và mất ánh sáng. Phải nhìn nhận rằng, nếu các thế lực bên ngoài có thể nhúng tay vào nội tình Việt Nam, phần lớn lỗi là ở chúng ta không biết thương nhau, không biết tới sự sống đích thực và kiêu hùng của dân tộc mà chỉ biết nghĩ tới quyền lợi và tự ái riêng tư”.

Đối với chính quyền của hai miền Nam-Bắc lúc bấy giờ, ngài cũng kêu gọi đến tình dân tộc và lương tri của các nhà lãnh đạo.

Chân dung Ngài Năm 1968

Trong Thông Điệp ngày 20.6.1968, ngài kêu gọi: “Chúng tôi kêu gọi chính phủ của hai miền Nam-Bắc Việt Nam và các thế lực quốc tế có liên hệ tới cuộc chiến tranh Việt Nam, hãy ngưng những cuộc bắn giết dân chúng Việt Nam, hãy ngưng việc xô đẩy nhân dân Việt Nam vào vòng chiến tranh một cách cưỡng bách, ngụy trang dưới hình thức pháp lý hoặc lý tưởng này nọ. Xin hãy thành thật dùng “đường lối ngoại giao hòa bình” để sớm giải quyết vấn đề chiến tranh Việt Nam, mà cơ hội đã mở ra tại hòa hội Paris”.

Cũng trong năm này, Đức Tăng Thống làm Đàn Đầu Hòa thượng cho Đại Giới Đàn tổ chức tại Phật Học Viện Hải Đức, Nha Trang. Đây là Giới Đàn quy tụ hơn 500 Giới Tử ở khắp cả hai miền Vạn Hạnh và Liễu Quán lúc bấy giờ.

Trong Thông Điệp Phật Đản 2513, Kỷ Dậu – 1969, được gọi là “Thông Điệp Vì Sứ Mệnh Hòa Bình và Hóa Giải”, ngài đã khẳng định: “Lịch sử đã chứng minh, dân tộc Việt Nam có sức hóa giải bền bỉ phi thường. Sức hóa giải đó là bản chất của dân tộc và cũng chính là bản chất Phật Giáo, vì Phật Giáo được xây dựng trên tinh thần trí tuệ, từ bi và hùng lực. Việt Nam vượt qua được giai đoạn bị đồng hóa là nhờ ở đức bao dung, sự đãi lọc và lòng kiên trì phát triển. Chính nhờ ở những căn bản quý giá đó mà đã hơn một lần Phật Giáo trợ duyên cho dân tộc hóa giải những lối sống xuất thế và nhập thế của các luồng tư tưởng Đông Phương, tạo ra sự quân bình tư tưởng cho Việt Nam dưới thời tự chủ Lý-Trần, kéo dài trên 3 thế kỷ”.

Trong Thông Điệp gởi cho Hội Nghị Quốc Tế Về Tôn Giáo Và Hòa Bình tại Thụy Sĩ, tháng 10 năm 1970, bằng những lời lẽ xác thực của hiện tình thế giới, ngài nhấn mạnh: “Chỉ có hòa bình mới cứu được nhân loại trong cơn khủng hoảng hiện nay. Chỉ có hòa bình mới đem lại sự cảm thông, sự tương thân tương ái, sự thi đua phát triển giữa các đại-tiểu quốc, cũng như các giai tầng xã hội. Chỉ có hòa bình mới đem lại cho con người cơ hội vận dụng sức mạnh khoa học, kỷ thuật để phụng sự tốt đẹp cho con người”.

Đối với những nhà lãnh đạo các nước đang viện trợ, điều khiển cuộc chiến tranh tàn khốc tại Việt Nam, qua Thông Điệp Phật Đản 2516, năm Nhâm Tý – 1972, ngài tha thiết kêu gọi: “Tôi kêu gọi Hoa Kỳ, Liên Sô, Trung Quốc, ba đại cường đang ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc chiến tại Việt Nam và đang cung cấp vũ khí cho các phe đối chiến, hãy vì sự an nguy của thế giới, vì sự diệt chủng của một dân tộc mà tìm sự thỏa hiệp với nhau để ngưng cung cấp chiến cụ vào Việt Nam, rồi dùng thế lực của mình mà sớm kết thúc cuộc chiến ở Việt Nam đi. Tôi kêu gọi toàn thế giới, nhất là tổ chức Liên Hiệp Quốc, hãy tích cực hơn nữa trong công cuộc vận động chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, để tạo sự quân bình cho thế giới”.

Trước nỗi thống khổ và loạn lạc vì chiến tranh chưa dứt, với lòng từ bi vô lượng, trong Thông Điệp Đầu Xuân năm Quý Sửu – 1973, ngài thiết tha kêu gọi: “Cuộc đời hiện hữu là một bể khổ mênh mông, tôi xin tất cả chúng ta, đừng bao giờ làm khổ mình, làm khổ thân quyến, làm khổ đồng loại, làm khổ chúng sinh. Vì tất cả đều đáng thương, đều cần phải sống xứng đáng cho trọn kiếp người, tất cả đều đáng tôn trọng và cần được phụng sự”.

Những lời kêu gọi tha thiết của ngài ở trên, cũng là pháp âm cuối cùng trước khi ngài an nhiên đi vào cõi Niết Bàn tịch tịnh.

Chân dung Ngài năm 1970

Chân dung Ngài năm 1970

Chân dung Ngài năm 1971

  • NHIẾP HÓA ĐỒ CHÚNG:

Hơn 60 năm xả thân hoằng hóa, ngài đã thế độ cho gần 50 vị đệ tử xuất gia (gồm chư vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni); ngài cũng đã truyền Ngũ Giới và Thập Thiện cho hàng vạn đệ tử tại gia.

Trong hàng đệ tử xuất gia của ngài, có nhiều vị đã làm nên những sự nghiệp lớn lao cho ngôi nhà Phật Giáo, như quý Hòa Thượng Tâm Minh – Chơn Thiệt, Tâm Trí – Minh Châu, Tâm Từ – Chơn Quả, Tâm Ngộ – Chơn Thiện, Tâm Phú – Chơn Kim, Tâm Thành – Chơn Thức, Tâm Tân – Chơn Tế… và chư vị Tỳ-kheo-ni như Sư Bà Tâm Huệ – Viên Minh, Tâm Quang – Minh Đức, Tâm Định – Cát Tường, Tâm Từ – Diệu Tấn v.v…(7)

Trong sự nghiệp nhiếp hóa đồ chúng, Hòa Thượng là vị Bổn Sư rất gần gũi và thương yêu đồ chúng. Ngài luôn tùy căn cơ, trình độ của mỗi người mà khuyên răn, dạy bảo.

Chỉ một lời dạy ngắn gọn của ngài “Gắng tự làm chủ lấy!” đã trở thành câu châm ngôn quý báu cho các đệ tử tâm niệm trong sự tu tập hàng ngày.

Đối với hàng tứ chúng xuất gia, ngài thường nhắc nhủ rằng: “Đạo Phật tồn tại không chỉ y cứ vào hình thức chùa tháp, lễ nghi, kinh điển – mặc dầu kinh điển là kim chỉ nam để hướng dẫn cho ta trên đường đi tới đạo quả Bồ đề. Nhưng sự tồn tại đích thực chính là thể hiện đạo phong, những nếp sống gương mẫu của các bậc Tăng-già nghiêm trì giới luật và biết tận lực phục vụ chánh pháp, để chánh pháp mãi tồn tại với con người, với cuộc đời và làm lợi ích cho chúng sinh”.

Đối với hàng Phật Tử tại gia, là những người có nhiều bổn phận phải lo toan hàng ngày, ngài chỉ dạy cho một phương pháp tu tập vô cùng giản dị, mọi người ai cũng làm được là “Mỗi tối trước khi đi ngủ, hãy ngồi thẳng trên giường, chí thành niệm 10 lần danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật”.

Trong những năm tháng cuối đời, khi tuổi cao sức yếu, ngài thường nhắc nhủ các hàng đệ tử “Trước, ta dạy các con bằng lời nói, có khi bằng roi vọt, nhưng nay thì ta dạy bằng sự im lặng”. Sự im lặng của ngài, là một bài pháp vô ngôn vi diệu đã thấm đẫm trong tâm thức và sự nghiệp hành đạo của nhiều thế hệ Tăng Ni, Phật Tử từ ấy cho đến ngày nay.

Ngài thường sống với mật hạnh vô vi, nên không lưu lại bài kệ phú pháp nào, nhưng qua bài thơ ngài cảm tác sau đây cũng đã thể hiện rõ ràng tôn chỉ “tự chủ – tự giác” và đủ làm ánh đuốc soi sáng cho các hàng đệ tử trên bước đường tu tập, hành trì:

Pháp thân vô trọng diệc vô khinh

Chỉ vị đa sanh hoặc tập tành

Nhất niệm hồi quang tri lụy kiếp

Lục căn thanh tịnh liễu tâm kinh

Ưng tiêu vọng tưởng chân vô ngã

Thỉ ngộ thuyền quang hiệp thế tình

Dục thám huyền vi công tự tỉnh

Hà lao hướng viện vấn thuyền huynh.

Tạm dịch:

Pháp thân không trọng cũng không khinh

Phân biệt do mê hoặc nghiệp thành

Một niệm hồi quang, lụy chướng dứt

Sáu căn thanh tịnh rõ tâm kinh

Nên tiêu vọng tưởng chơn vô ngã

Mới biết đạo kia hiệp thế tình

Muốn ngộ lẽ mầu tâm tự tỉnh

Ích chi đến việc hỏi thuyền huynh.

NHỮNG NGÀY THÁNG CUỐI ĐỜI:

Suốt những năm tháng ở ngôi vị lãnh đạo tối cao, Đức Tăng Thống được chư tôn giáo phẩm cung thỉnh vào an trú trong các chùa viện lớn ở Sài Gòn như Xá Lợi, Ấn Quang, Quảng Hương Già Lam… để điều hành mọi Phật sự trọng đại của Giáo Hội.

Nhưng bất ngờ, vào cuối năm Nhâm Tý – 1972, lúc ngài đang ở Tu Viện Quảng Hương Già Lam, ngài lại tỏ ý là muốn trở về Huế. Đến ngày 15 tháng 11 năm Nhâm Tý (20.12.1972), lúc chư tôn giáo phẩm trong Hội Đồng Lưỡng Viện đến làm lễ cung tiễn ngài về Huế, Hòa Thượng Thích Thiện Hoa, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo có lời tác bạch: “Xin cung thỉnh Đức Tăng Thống sau khi về thăm cố đô ít ngày, rồi xin ngài trở lại thủ đô để lãnh đạo Giáo Hội”.

Ngài thong thả đáp dứt khoát: “Thôi, tôi không vô nữa”.

Đức Tăng Thống về tịnh dưỡng tại chùa Tường Vân. Trong thời gian này, ngài thường bảo các Thị Giả đưa ngài đi thăm viếng các Tổ Đình Từ Đàm, Quốc Ân, Bảo Quốc, Thuyền Tôn, Từ Hiếu, Kim Tiên… rồi đi thăm các Phật Học Viện và Ni Viện ở Huế.

Vào tết Nguyên Đán năm Kỷ Sửu – 1973, chư tôn đức lãnh đạo miền Vạn Hạnh và Giáo Hội tỉnh Thừa Thiên, Huế vào đảnh lễ vấn an và chúc thọ ngài. Như dự tri được khoảnh khắc từ giã chư tôn giáo phẩm, môn đồ thất chúng, nên ngài đã ân cần phú chúc và nhỏ nhẹ ban lời huấn dụ: “Tôi thấy tôi sức khỏe đã kém nhiều, tôi khuyên các Tăng Ni, Phật Tử cố gắng lo việc tu hành để báo đáp công ơn Tam Bảo, thương mến và đoàn kết với nhau để xây dựng Giáo Hội và góp phần vào nền hòa bình dân tộc!”.

Chư tôn đức Tăng Ni và môn đồ thất chúng ở Thừa Thiên, Huế không ai ngờ rằng những lời ngài ân cần dạy bảo lúc bấy giờ, lại là lời di huấn cuối cùng của ngài.

Đến ngày rằm tháng giêng năm Quý Sửu – 1973, thì pháp thể Hòa Thượng khiếm an. Sau một tuần thuốc thang tịnh dưỡng, vào lúc 20 giờ 45 phút ngày 23 tháng giêng năm Quý Sửu (nhằm ngày 25.2.1973), ngài an nhiên xả bỏ báo thân, thể nhập Niết Bàn.

Hương án Đức Tăng thống tại Thiền đường Tổ đình Tường Vân

Bảo tháp an táng nhục thân của Đức Đệ nhất Tăng thống

— — — oOo — — —

Chú thích:

  1. Về năm sinh của ngài, trong tập san “Bát Nhã”, do Tổng Vụ Tài Chánh Viện Hóa Đạo, số đặc biệt tưởng niệm chung thất Đại Lão Hòa Thượng Đệ I Tăng Thống ghi là: “Ngài sinh ngày 17.11 năm Tân Mão (1890)” ,chắc là nhầm, vì năm Tân Mão là năm 1891. Sau này, khi Thượng Tọa Đồng Bổn cho ấn hành bộ “Tiểu Sử Danh Tăng Việt Nam Thế Kỷ XX” cũng ghi đúng như vậy.
  2. Vị thứ này, trong nội dung văn bia nơi bảo tháp của ngài, do Hòa Thượng Trí Quang cẩn soạn, đoạn này ghi:”Bấy giờ ông bà cầu Bạch Đại Sĩ, tuổi già bóng xế mới sinh tiếp nhau hai con trai. Đại Sư là con thứ hai. Lúc song thân cầu đảo Đại sĩ, nguyện rằng có con thì cho ngay làm Phật Tử. Trong bộ “Tiểu Sử Danh Tăng” (sđd) và bộ “Lịch Sử Phật Giáo Xứ Huế” của Thượng Tọa Hải Ấn và Hà Xuân Liêm, bản in năm 2001 đều ghi rằng: “Ngài là con thứ ba trong gia đình”.
  3. Trong cuốn “Lịch Sử Phật Giáo Xứ Huế” (sđd) ghi: “Ngài Tịnh Hạnhthọ Cụ-túc giới năm 1913”, chúng tôi e là không phù hợp. Bởi lẽ, Hòa Thượng Tịnh Hạnh sinh trước 3 năm và xuất gia trước bào đệ của ngài 1 năm, lại là đệ tử ưu tú, lẽ nào lại thọ đại giới sau em của ngài đến ba năm?
  4. Trong bộ “Lịch Sử Phật Giáo Xứ Huế” (sđd ) ghi : “Giờ ngọ, ngày mồng 5 tết năm Tân Dậu, Khải Định năm thứ 6 (1926), ngài viên tịch”. Nếu là năm 1926 là không phù hợp, vì năm Tân Dậu là năm 1921, còn năm 1926 là Bính Dần, năm Bảo Đại nguyên niên.
  5. Trong tập san “Bát Nhã” (sđd) ghi là:“Năm 1938, ngài làm Chứng Minh Đạo Sư sáng lập An Nam Phật Học Hội”.Sau này, Thượng Tọa Đồng Bổn (sđd) ở trang 462, cũng ghi: “Năm 48 tuổi, 1938, ngài được cung thỉnh Chứng Minh Đạo Sư sáng lập An Nam Phật Học Hội”, chúng tôi cũng e là không phù hợp. Bởi lẽ, theo cácsử liệu đáng tin cậy cho thấy: “An Nam Phật Học Hội được thành lập từ ngày 15.2 năm Nhâm Thân (1932) và chư vị Hòa Thượng Chứng Minh Đại Đạo Sư cho Hội trong thời kỳ thành lập là quý ngài Phước Huệ, Giác Tiên, Giác Nhiên, Giác Bổn và Giác Hạnh”. (Xin xem thêm trong cuốn “50 Năm Chấn Hưng Phật Giáo Việt Nam”của Hòa Thượng Thiện Hoa, bản in năm 1970).
  6. Có vài tư liệu ghi là Giáo Hội Tăng Già Việt Nam được thành lập vào năm 1952, nhưng theo Hòa Thượng Thiện Hoa (sđd) thì ghi rõ cả ngày, tháng, năm thành lập là 7.9.1951.
  7. Trong tập san “Bát Nhã” (sđd) ghi rằng Thượng Tọa Tâm Quang – Chánh Pháp (trụ trì chùa Phổ Quang, Huế) là đệ tử của Hòa Thượng Tịnh Khiết. Nhưng theo Thiền Phổ chùa Từ Hiếu, thì Thượng Tọa Chánh Pháp là đệ tử của Hòa Thượng Trừng Hương – Tịnh Hạnh.

oOo

Biên tập, trình bày theo bản tiểu sử và tài liệu do Cư Sỹ TÂM QUANG – Tại gia đệ tử của ngài – cẩn soạn nhân húy nhật lần thứ 36 của Bổn Sư, Phật lịch 2553, Kỷ Sửu – 2009.

Quảng Mẫn

 

1546 lượt xem