NGÀY HẠNH
Của Ngành Nữ
19 – 2 ; 19 – 6 ; 19 – 9 Âm lịch

————–*@*————–

Tùy theo hoàn cảnh, khí hậu, thời tiết của địa phương; Ban Hướng Dẫn Tỉnh, Thị chọn 1 trong 3 ngày trên làm ngày Hạnh truyền thống cho đơn vị mình.

I- Ý nghĩa
II- Mục đích
III- Yêu cầu
IV- Kế hoạch thực hiện
V- Lửa trại.
***

I- Ý NGHĨA.

1)- Biểu tượng :

Biểu tượng của ngành Nữ là ngài Quán Thế Âm Bồ Tát.

2)- Ý nghĩa :

Trong kho tàng kinh điển của nhà Phật có một vị Bồ Tát biểu tượng hoàn mãn hạnh nguyện TỪ BI, đó là ngài QUÁN THẾ ÂM, ngài thường xuất hiện dưới hình tượng của người Nữ, thật dịu hiền. Một tay cầm tịnh bình chứa cam lồ pháp vị ngọt ngào, phục sinh sự sống. Một tay cầm cành dương, biểu tượng của sự sống xanh tươi trong lành, không rầu buồn, khổ đau, phiền muộn. Ngài vân du đó đây, từ núi rừng, ruộng đồng, sông hồ, bể khơi để cứu khổ cứu nạn.

Trong kinh Pháp Hoa, Phật đã trả lời thắc mắc của ngài Vô Tận Ý ; Do nhơn duyên nào Bồ Tát nầy có danh hiệu là Quán Thế Âm ? rằng: Nếu có chúng sanh nào đang chịu cảnh khổ đau tai ách, nghe được danh hiệu ngài Quán Thế Âm, một lòng cung kính niệm tụng danh hiệu Ngài, tức thời duyên theo âm thanh ấy mà được giải thoát. Ví bằng có chúng sanh nào trì tụng danh hiệu Ngài, dù có ngã vào lửa, lửa cũng không cháy, du hành trên biển, dù gặp phong ba bão tố cũng không thiệt mạng. Dù có rơi vào chỗ giặc giã đao binh, ma quỷ tù tội giam cầm, nhờ oai lực của Ngài thảy đều được an bình thoát ly hiểm nạn. Thậm chí nếu si mê u tối, dục vọng tham ái, mà biết niệm tụng danh Ngài cũng thay được tâm ý, thành sáng suốt, thanh tịnh xả ly.

Ngài Vô Tậm Ý bạch Phật : Ngài Quán Thế Âm đã thực hiện hạnh từ bi cứu độ chúng sanh trong cõi Ta Bà nầy như thế nào ?

Phật dạy: Tùy thuận ước vọng của chúng sanh mà Bồ Tát hiện thân tương ứng để cứu độ, tạo niềm tin tuyệt đối làm cho chúng sanh hưng phấn, tỉnh thức mà thoát ly khổ đau. Giả sử chúng sanh nghĩ rằng chỉ có Phật mới cứu được họ, Bồ Tát sẽ xuất hiện dưới hình tướng Phật để cứu độ. Nếu họ cầu xuất hiện thân Thanh Văn, Duyên Giác, Đế Thích, Tự Tại Thiên, Tỳ Sa Môn Thiên Vương, Tiểu Vương, Trưởng Giả, Tễ Quan, Bà La Môn v.v… Ngài liền hiện thân đúng như sở nguyện mà cứu độ.

Những điều này mang ý nghĩa Như Lai muốn nhắc nhở chúng ta nói chung, và người nữ nói riêng rằng: Hãy biết lắng nghe và thông hiểu những khó khăn, khổ buồn, trăn trở, thao thức, lo lắng, thống thiết của chúng sanh và cũng chia sẽ với họ, là đã làm vơi đi một nửa tuyệt vọng khát khao của họ. Chỉ cho họ thấy con đường BÁT CHÁNH ĐẠO vượt qua khổ nạn, giúp đỡ họ thành toàn bản nguyện thì khổ đau tứ sanh phải đoạn diệt.

Ngài Quán Thế Âm có đến 500 danh hiệu, biểu hiện 500 hạnh nguyện chất ngất từ ái thiết tha. (Đọc tụng kinh Ngũ Bách Danh Quán Thế Âm). Ở đây chỉ nêu những đặc trưng thường thấy.

Ngài Quán Thế Âm còn có danh hiệu THIÊN THỦ THIÊN NHÃN, có nghĩa là ngàn tay ngàn mắt. Tượng minh họa đức Quán Thế Âm có một ngàn tay trong mỗi bàn tay có một con mắt, có nghĩa dạy chúng ta, mà đặc biệt là chị em ngành nữ “Mắt đã thấy liền ra tay cứu vớt”. Đây là hành động dấn thân nhập cuộc, thể hiện bằng hạnh đức chứ không phải ngôn thuyết cổ động ồn ào. Đó là cái nét đầy tinh thần nhân ái, ngọt ngào thuyết phục thu hút của chị em. Cho nên cử chỉ duyên dáng, dịu dàng hòa ái của chị em là lọ thuốc thần giúp cho các thành viên trong gia đình tiêu xái mọi nỗi ưu phiền thất bại trong đời thường, và thấy rõ gia đình là mái ấm, gia đình là vùng đất hứa, gia đình là hạnh phúc.

– Bàn tay xếp đặt cuộc sống ngăn nắp, sạch đẹp một cách kiên trì và hỷ lạc, là chìa khóa vàng mở cửa kho báu hạnh phúc gia đình.

– Vòng tay của người chị, người mẹ, vợ hiền đức, tuy mềm yếu nhưng ôm cả hòn đảo yên bình và cả bầu trời mơ ước mà các thành viên khác có thể an trú.

Đại võ sĩ quyền Anh Holifield đã nói một lời rất dễ thương: Tôi có thể đấm ngã một võ sĩ vĩ đại, nhưng tôi lại thất thủ trước bàn tay dịu hiền của vợ và bàn tay từ ái của mẹ tôi.

Trong lòng bàn tay là con mắt. Con mắt biết nhân lên niềm vui để thọ hưởng và an trú, con mắt biết chia xẻ nỗi buồn, chung sức gánh chịu để vươn lên, xây dựng lại.

Con mắt của chư Phật nói chung và của ngài Quán Thế Âm nói riêng, luôn luôn nhìn xuống, nhìn vào trong, nhìn ra xa nhưng không nhìn lên cao. Có nghĩa chị em xây dựng và thăng hoa cuộc sống bắng HẠNH ĐỨC chứ không phải bằng đua đòi khát vọng.

Con mắt nằm trong lòng bàn tay, mắt thấy và tay làm, hành động luôn đi đôi với nhận thức. Phần lớn người đời đều có thể nhận thức đúng, nhưng rồi để nói, để cổ động, để gây phong trào rồi mới làm, trong việc làm thì luôn có mưu đồ.

Đức Quán Thế Âm vân du đó đây, từ núi cao rừng sâu đến ruộng đồng, thôn làng, phố thị và cả đến vùng đầm lầy cát trắng, lúc nào cũng thanh thoát dịu hiền. Nếu người Phật tử nói chung, Nữ Phật tử nói riêng, bước vào cuộc sống một cách thanh thản, không đay nghiến, không càu nhàu, với cặp mắt dịu hiền, ngọt ngào, kham nhẫn thì cuộc đời hạnh phúc và sung sướng biết bao !

3)- Điều mạnh của chị em:

Người đàn bà tài ba, trấn an trăm họ, ngang dọc thảo phạt nơi chiến trường như Bà Trưng, Bà Triệu, Bà Bùi Thị Xuân. Người đàn bà lừng lẫy nơi chính trường như Magarette Thacher, All Bright, Từ Hy Thái Hậu tuy có nhưng không nhiều. Nhưng mẫu người cần cù, từ ái, kham nhẫn, sản sinh và nuôi dạy con mình thành nhân tài của xã hội thì không thể đếm xuể trên hành tinh nầy.

– Xưa nay nam giới bị khuất phục dưới uy lực của cánh quần thoa tuy có nhưng hiếm, nhưng đám mày râu lụy mình vì nước mắt của cánh má hồng thì bút giấy thế gian không ghi chép nổi.

Cho nên chị em nên biết cái sở trường bẩm sinh của mình mà phát huy, dễ thành công hơn xử dụng sở đoản.

Đến cuối thiên niên kỷ thứ hai nầy, dù Đông phương hay Tây phương cũng đồng chung một quan điểm, đó là sự trân trọng người nữ như trân trọng một loài hoa quý. Chị em cứ nghĩ xem, sắc hương của hoa quyến rũ và người ta chen chúc nhau tìm kiếm, chứ chưa từng nghe ai nói hoa đi tìm người.

Cái hương hoa hạnh đức của chị em có uy lực mãnh liệt vô cùng, không cần phải dùng ngôn ngữ quảng cáo tiếp thị. Vì khi chị em rao mời bằng ngôn ngữ, bằng quảng cáo và tiếp thị, vô tình chị em đã tự hạ nhân phẩm đức hạnh của mình xuống ngang hàng với một thứ hàng hóa. Chỉ có giới buôn hương bán phấn mới làm vậy. Phải cẩn thận và suy gẫm kỹ.

– Nước ta là một trong những quốc gia theo chế độ nhân văn phụ hệ trong vấn đề tông đường và duy trì nòi giống. Quan niệm trọng nam khinh nữ vốn đã lạc hậu và bị xã hội lên án, nữ giới được luật pháp bảo vệ một cách tích cực. Tuy vậy, trong chiều sâu tư tưởng, cặp vợ chồng nào không có một cậu con trai là như thiếu một cái gì đó thiêng liêng vô cùng, dù gia đình đầm ấm vẫn khó có thể hạnh phúc hoàn toàn.

Nói như thế có nghĩa chị em phải nhìn vào thực tế, sống chân thật và có kiến thức về khoa sinh học, nó rất cần thiết để khắc phục những trở ngại nêu trên, đó mới là thái độ khôn ngoan.

Để duy trì một xã hội an toàn và lành mạnh của nền luân lý Đông phương, đức Khổng Phu Tử có đưa ra đạo lý “Tam Tòng tứ Đức” như là khuôn vàng thước ngọc để xây dựng một người nữ mà theo ngài là vẹn toàn, đã được xã-hội-hóa tiêu chuẩn nầy và ngự trị ở các nước Á Đông Thái Bình Dương gần 25 thế kỷ qua.
Tam Tòng là:

– Tại gia tòng phụ: Khi người con gái chưa có chồng, phải biết nghe, làm và sống theo người cha.

– Xuất giá tòng phu: Khi có chồng thì theo chồng

– Phu tử tòng tử: Nếu chồng chết thì theo con.

Muốn hiểu thông đạo lý nầy, chị em phải nghiên cứu và tìm hiểu thuyết Chánh Danh của Khổng Phu Tử. Thuyết nầy đại ý nói rằng, phàm mọi sự mọi việc có Danh thì phải có Phận, có Trách nhiệm. Nôm na có thể hiểu rằng: Cha phải ra cha, nghĩa là phải làm đủ bổn phận của người cha, nuôi con đủ, dạy con ngoan, phòng hộ con khi ốm đau tai nạn, đỡ đầu cho con vào đời, và trách nhiệm làm vẻ vang tộc họ gia phong.

Chồng phải ra chồng, bảo đảm đời sống kinh tế vật chất, siêng năng cần mẫn, thủy chung với vợ, từ ái với các con, bảo hộ chở che cho vợ, duy trì và phát triển tinh thần truyền thống gia phong.

Con phải ra con, nghĩa là phải lễ phép, siêng chăm lao động và học tập, duy trì truyền thống gia đình, cung kính phụng dưỡng cha mẹ, sớm viếng khuya hầu.

Tứ Đức là: Công – Dung – Ngôn – Hạnh

Công: Khả năng nội trợ, may vá, thêu thùa, trông coi việc nhà, nuôi dạy con cái. Nhưng nếu tài trí hơn người thì Trị Quốc, Bình thiên hạ cũng là Công vậy.

Dung: Giữ gìn cái đẹp từ thể chất đến tinh thần, cho bản thân lẫn cả cho người. Ăn mặc, trang điểm đoan trang, phải thời phải lúc, sạch sẽ ngăn nắp.

Ngôn: Là lời nói phải dịu dàng đoan chánh, hòa nhã đứng đắn, khiêm hạ lịch sự, đúng lúc, đúng nơi. Không ngồi lê đôi mách, không đanh đá bốp chát, không dua nịnh, khoa trương khoác lác.

Hạnh: là cái Nết của chị em, bao gồm cả đi đứng nằm ngồi, giao tế đoan trang, kín đáo, thận trọng.

Người nữ giữ được tam Tòng tứ Đức, tự thân có sức thu hút, kiến lập nên một gia đình biểu mẫu, một xã hội văn minh, trật tự an toàn tốt đẹp.

Chị em hãy cùng nhau thảo luận để rút ra những tiêu chuẩn mới đối chiếu với những tiêu chuẩn cũ.

4)- Người nữ trong giáo lý nhà Phật:

Trong giáo lý nhà Phật, chúng sanh đều bình đẳng, không có giai cấp phân biệt, khi nước mắt chúng sanh đều mặn, và dòng máu cùng đỏ. Ngoại trừ ứng hóa thân của chư Phật, Bồ Tát và Thánh chúng, chúng sanh gieo nhân hạnh sai khác không đều, dẫn đến chủng loại thọ phần sanh thân không giống nhau (Kinh Nhân Quả Nghiệp Báo). Hãy thảo luận để hiểu sâu sát về 5 điều khuyết hãm trong tu chứng của người nữ (tham khảo Kinh Pháp Hoa, phẩm Đề Bà Đạt Đa thứ 12, chỗ đối thoại giữa Tôn Giả Xá Lợi Phất và nàng Long Nữ). Phân tích tìm hiểu thật tướng bát kỉnh pháp:

1- Dù trên trăm tuổi, Tỳ Kheo Ni phải chào kính trước Tỳ Kheo Tăng mới thọ.

2- Tỳ kheo Ni không được xúc phạm Tỳ Kheo Tăng.

3- Tỳ Kheo Ni không được cử tội Tỳ Kheo Tăng.

4- Thức Xoa Ma Ni phải cầu Tỳ Kheo Tăng thọ đại giới.

5- Tỳ Kheo Ni phạm đại giới phải đứng giữa hai chúng Tỳ Kheo mà phát lồ sám hối.

6- Cứ 15 ngày (nửa tháng) phải đi thỉnh Tỳ Kheo Tăng về thuyết pháp.

7- Không được nhập hạ nơi không có Tỳ Kheo Tăng.

8- Phải ra trước hàng Tỳ Kheo Tăng trong pháp Tự tứ.

II- MỤC ĐÍCH CỦA NGÀY HẠNH.

1- Kiểm điểm công tác sinh hoạt, học tập và tu trì trong quá trình một năm qua.

2- Làm sáng tỏ vai trò trách nhiệm của chị em đối với bản thân, gia đình, đạo pháp và dân tộc.

3- Tự khẳng định mình, tự chủ, không dựa dẫm vào ngành Nam, với những đặc thù giới tính đáng trân trọng.

4- Vạch chương trình đề án sinh hoạt, đáp ứng yêu cầu của tổ chức ngành, cập nhật hóa nhu cầu thời đại. Sẵn sàng gánh vác trách nhiệm trước thực tế cuộc sống đời thường.

III- YÊU CẦU.

Để làm sáng tỏ ý nghĩa của ngày Hạnh, thực hiện đúng các mục đích của chủ đề truyền thống ngày Hạnh, tùy theo hoàn cảnh môi trường sinh hoạt tại địa phương, ngành Nữ Ban Hướng Dẫn/GĐPT cấp Tỉnh, lên phương án thực hiện, Ban Hướng Dẫn Trung Ương cử người tham dự, có ý kiến chỉ đạo thực hiện trong công tác Phật sự sắp tới.

Đưa vào chương trình sinh hoạt ngày Hạnh truyền thống dưới các hình thức: Hội thảo, tọa đàm, diễn đàn… các đề tài:

1- Cuộc đời công hạnh của đệ nhất lão lạp Kiều Đàm Di trong Ni Bộ Tăng đoàn của Phật.

2- Ý thức vươn lên từ cuộc đời của một gái giang hồ đến chứng đạt Thánh quả của nữ thần thông đệ nhất; bà Liên Hoa Sắc.

3- Ngôn ngữ công hạnh của đệ nhất thuyết pháp trong ngành nữ; bà Pháp Dữ (Dhammadinà).

4- Tu thiền đệ nhất trong Ni Bộ; Tỳ Kheo Ni Nam Da (Nandà).

5- Gương tinh tấn của Tỳ kheo Ni Toma (Sonà).

6- Tín giải đệ nhất ; Tỳ Kheo Ni Chế Già Lam Da (Sigàlàkamàyà).

7- Cận sự Nữ Tỳ Xá Phù (Visàkahà), vợ ông Cấp Cô Độc, đệ nhất bố thí và những pháp thoại khai ngộ của Thế Tôn.

8- Đa văn đệ nhất Ưu bà di Uất Đà La (Khujjutàrà).

9- Ưu bà di thiền định đệ nhất Uttra.

10- Con đường tu tập và hạnh nguyện của Thắng Man Phu Nhân. (Tham khảo Tăng chi bộ kinh – Kinh Thắng Man.)

11- Những người nữ tiêu biểu trong lịch sử dân tộc Việt: hai bà Trưng, bà Triệu, bà Bùi Thị Xuân, Thái Hậu Dương Vân Nga, Ỷ Lan Thứ Phi, bà Từ Dũ, bà Nguyễn thị Tồn, bà Huyện Thanh Quan. . . . .

12- Các đề tài liên quan đến gia đình và xã hội:

– Thiên chức của người nữ qua vai trò làm mẹ và làm vợ.

– Thực hành năm hạnh là kiện toàn phẩm hạnh của người nữ.

– Bi, Trí, Dũng, hành trang đặc thù của người nữ trong giai đoạn hiện tại.

– Năm giới là hành trang cụ bị để xây dựng hạnh phúc cho mình và cho người trong cộng đồng xã hội.

Một đề tài không thể thiếu: Cuộc đời công hạnh, đạo nghiệp của đa văn đệ nhất: Tỳ Kheo Thị giả của Phật ; ngài A-Nan, người tạo cơ hội để Như Lai mở cửa phương tiện thù thắng dành cho người nữ trong Tăng đoàn của Phật.

IV- KẾ HOẠCH THỰC HIỆN.

Ngành nữ Ban Hướng Dẫn các Tỉnh, Thị, phải chỉ đạo các đơn vị kiến lập diễn đàn sinh hoạt ngày Hạnh từ tháng 6 đến tháng 9. Làm thế nào cho chị em đứng vững trên đôi chân bằng cái đầu của mình, từ học tập, huấn luyện và sinh hoạt chuyên năng.

Khai thác triệt để những suy tư, âu lo, trăn trở cũng như những ước mơ thầm kín của chị em, để kịp thời có phương án giáo dục, xây dựng cởi mở cũng như hoàn chỉnh tư duy đúng đắn. Sinh hoạt GĐPT không gói gọn trong 3,4 giờ phù du vào chiều chủ nhật, mà nhằm đáp ứng các yêu cầu:

a) Hướng dẫn chị em biết sử dụng, quỹ thời gian để làm việc, học tập và tu trì hợp lý.

b) Thư giãn tuyệt đối sau một tuần lao động, học tập.

c) Thu nạp năng lượng, tạo sức bật cho tâm hồn, cho thể chất, thắng vượt những trở lực khó khăn trong đời thường một cách minh mẫn và sáng suốt.

d) Hình thức sinh hoạt, tu học phải phổ cập, đa dạng và phong phú.

e) Trao cho chị em tinh thần tự tin, yêu đời, đầy sinh khí phấn chấn, để cho bất kỳ một cuộc giao lưu nào cũng có thể thiết lập một sân chơi bỏ túi, một hoạt náo viên, một họa mi thu hút quần chúng. Từ đó, buổi chiều chủ nhật sinh hoạt với Gia Đình Phật Tử sẽ là nơi bồi dưỡng năng lực tổng quát cần thiết không thể vắng mặt. Ngày tháng trôi qua sẽ tạo chất keo sơn gắn bó với đoàn một cách nhiệm mầu. Trong Tỳ Ni nhật dụng Tổ dạy: sống với đạo như đi trong mưa sương, tuy không ướt áo nhưng thấm lạnh.

Nhân loại ai cũng tôn vinh người nữ như một loài hoa đầy hương sắc và sống động, làm tươi mát và thăng hoa cuộc đời. Người nữ phải tự khẳng định mình bằng cách nâng cao tầm nhìn nhân sinh mà còn phong cách sống nữa.

Ngày xưa rất lâu xa, có người nhìn hoa mà hoát nhiên đại ngộ đạo lý của Phật, nên chư Hiền gọi Ngài là Giác Hoa Tự Tại Vương Như Lai.

Năm 1985, BHD/GĐPT Gia Định có mở hội thi cắm hoa cúng dường Phật Đản. Có em Quỳnh Hoa 14 tuổi, con của anh Tâm Liên vừa cắm hoa vừa thuyết: Nước là nguồn năng lượng vô biên của cuộc sống. Cũng như mọi sinh, động, thực vật khác, thiếu nước hoa không thể tồn tại. Thức ăn bổ dưỡng làm cho con người bổ da sáng mắt. Thực phẩm hòa tan trong nước cũng cần cho nghệ nhân. Bàn chông trong lọ hoa tượng trưng cho mạch nguồn của cuộc sống, cắm hoa không xuyên qua nước, không chạm đến bàn chông, nó thể hiện một tâm ý phù dung, rời rạc không mạch lạc kiểu như xây nhà trên cát, dễ ngã đổ, chóng héo tàn, khó di chuyển.

Tùy theo đặc tính của loài hoa mà nghệ nhân có thể xây dựng cấu trúc tạo hình thích nghi, tạo cho hoa có một ngôn ngữ, một tiết tấu riêng gửi đến người thưởng ngoạn. Không thể luồn kẽm trong hoa, sau rồi uốn cong hoa xuống dưới mực nước trong bình. Không thể cắt hoa tươi điểm xuyết cho lọ hoa như một người làm vòng hoa tươi đi đám tang. Chọn không gian để bài trí hoa. Phong lan không thể để la đà gần chạm mặt bàn v.v…

Thưa các anh chị, lọ hoa đẹp cũng không khác một người con gái đẹp, con người đẹp, chẳng những vóc dáng hình hài phải đẹp, mà còn đòi hỏi phong cách đi đứng ăn nói ứng đối với nhân quần xã hội. Phải đứng vững trên đôi chân của mình, không dựa dẫm ỷ nương vào ai khác.

Hoa cũng không được đứng đâu khác ngoài bàn chông của nó mới kế tục được dòng đời mạng mạch của cuộc sống. Người nghệ nhân mới phải phối trí, cân nhắc đối xứng về thể trạng màu sắc. Sắp xếp các hoa không khác một nhạc sĩ phối âm trong một bản nhạc. Tác phẩm hoa tươi sẽ thay thế em, trình lên chư tôn quý anh chị ý nghĩa của nó để cúng dường ngày Thế Tôn đản sanh, nên em đặt tên cho tác phẩm của em là Đàm Hoa.

Ngày Hạnh năm 1995 tôi được các chị mời tham quan khu trưng bày sức sống của chị em. Ở gian hàng thuộc GĐPT Đức Hạnh, tôi có nghe chị Phượng thuyết minh:

Bàn tay dịu hiền khéo léo của chị em, qua việc bếp núc chế biến thực phẩm, cũng cống hiến cho các thành viên trong gia đình niềm hưng phấn thanh lịch trong tâm hồn, nguồn năng lượng để sống khỏe. Thức ăn chẳng những phải sạch sẽ, mà còn phải đẹp mắt và ngon lành, mùi vị phải đặc biệt đáp ứng được khẩu vị chung của mọi người trong gia đình. Từ đó, bất cứ một thành viên nào, vì hoàn cảnh phải sống xa gia đình, đều ao ước có một ngày đoàn tụ. Hoặc trên bước đường phiêu lãng, thấy ở đâu đó có món ăn gần tương tự là nhớ ngay đến người thân trong gia đình, và trong thoáng giây một niềm hạnh phúc ngọt ngào trỗi dậy. Chị mời quan khách dùng thử các tác phẩm trưng bày.
Trong trò chơi lớn đi tìm kho báu ở Đường Sơn Quán, trong câu chuyện lên đường, ở điểm xuất phát chị nói: Kho báu của đại đa số chị em mình là có được một gia đình hạnh phúc, kho báu cất ở Cực Lạc Quốc Độ tại thế. Muốn đến được kho báu, chị em phải ba người hiệp một đăng trình. Phải nhớ cho kỷ dòng đời không khác một dòng sông, tất cả mọi dòng sông đều chảy ra biển. Đạo Phật gọi dòng sông này là dòng sông mê, biển đó là biển khổ.

Không thể theo dòng sông mà đến được kho báu. Chỉ có một cách thôi, chị em hãy chọn đi mà chuẩn hành trang cụ bị.

Các bậc Thầy, Tổ dạy đi tìm hạnh phúc đúng chánh pháp không khác “Người lội ngược dòng sông”, dừng lại đã là tụt hậu huống là thoái xuất. Chị em phải theo địa hình mà thể hiện sự mưu cầu hạnh phúc cho mình.

Chị vừa nghe khẩn điện của Ban Hướng Dẫn cho Ban Quản Trại rằng: đừng hành xác các em, để các em chơi thoải mái. Nhưng thay mặt BQT, chị trả lời đã muộn. Người làm tướng trên chiến trường có thể không vâng lời người lãnh đạo quốc gia ở hậu cứ khi đội quân đã xuất phát. BHD bèn phái các chuyên viên nghe nhìn giúp đỡ các em, chị không cấm, bởi đó là những thiện thần. Nhân danh Ban Quản Trại, chị khuyên các em nên vâng lời. Từ đó các em chia ra từng nhóm 3 người, có nhóm thì cột tay lại với nhau, nhóm thì cột chân với nhau đồng tâm nhất trí vượt sông. Có nhóm băng qua sông, nhóm lội ngược dòng sông. Các đội đi sai lộ trình có thần nhân xuất hiện dùng Sémaphore, Morse để chỉnh hướng, khai ngộ. Khi vượt qua các trạm thử thách, các em đã đến đích và tìm ra kho báu là một cây đàn ở điểm tập kết, thay vì thuyết minh, các em đã phổ nhạc bài kệ về tiếng đàn của Như Lai và hợp xướng.

Sở dĩ tôi dài dòng như vậy để nói với các chị rằng, hãy Phật hóa các tiêu chí học tập và tu trì, tạo dấu ấn khó quên trong đời thường nghiệt ngã đầy biến động, đòi hỏi Huynh Trưởng nữ phải động não, đầu tư trí tuệ và nhiệt huyết mới có thể phục vụ và thăng tiến tổ chức, hoàn thành sứ mạng cao cả của mình.

1) Xây dựng chương trình lễ hội ngày Hạnh truyền thống. Tùy theo thời gian địa điểm và mục đích các Phật sự trong năm mà kiến lập một chương trình chặt chẽ. Thường thì có mấy phần như sau đây:

a) Tiền khai mạc trại (khai hội)

* Tại điểm xuất phát:

– Tập họp chung, điểm danh, báo cáo số lượng trại sinh tham dự, kiểm tra hành trang cụ bị, dặn dò cần thiết, nhận bản tin lên đường.

* Tại địa điểm tập kết:

– Xây dựng sa bàn trại. Lập làng, xây dựng công trình chung, tập họp chung, phổ biến chương trình khai mạc, chuẩn bị lễ khai mạc.

b) Lễ khai mạc ngày hội:

– Tập họp chung.

– Đón rước quan khách.

– Thông qua chương trình.

– Tuyên bố lý do.

– Giới thiệu thành phần tham dự.

* Cử Giáo Ca (niệm danh hiệu Bổn Sư, tùy trường hợp)

* Cử bài Sen Trắng (bắt buộc)

* Cử trại ca (nếu có)

* Phút tưởng niệm chư Thánh tử đạo, Huynh Trưởng + Đoàn sinh quá cố.

– Ban Quản Trại trình diện trại sinh lên Ban Hướng Dẫn, chư Tôn Giáo phẩm.

– Diễn văn khai mạc của Trại Trưởng.

– Trao còi lệnh. (Từ tiền khai mạc trại đến đây Thư Ký trại đảm trách. Khi Đời Sống Trại nhận còi, Thư Ký trại tự thoái vị, ĐST tiếp tục điều khiển chương trình phần còn lại.)

– Diễn hành qua khán đài nếu có.

– Diễn từ của BHD Tỉnh, Thị.

– Huấn từ của BHD Trung Ương.

– Đạo từ của Thầy Cố Vấn.

– Giáo từ của Đại diện Giáo Phẩm Trung Ương

– Lời cảm tạ của Ban tổ chức.

– Tiễn đưa quan khách.

– Phổ biến nội lệ chương trình trại.

– Tan hàng.

Ghi chú: Cách sắp xếp chỗ ngồi.

Trên cao: Chư Tôn chứng minh, không được để Cư sĩ ngồi chung trên hàng nầy, dù có làm đến chức gì.

Thấp hơn và trước tiên là BHD/TW, chủ tọa. Hai bên là anh chị trưởng BHD cấp Tỉnh, Thị, Ban Bảo Trợ, Hội cựu Huynh Trưởng, quan khách. Kế đến là anh chị ban viên BHD Trung Ương và Tỉnh, Thị.

V- LỬA TRẠI.

Ý nghĩa:

Lửa là nguồn năng lượng đầu tiên con người phát hiện ra, và kể từ đó cuộc sống dần dần phát triển. Con người giã từ cuộc sống gần như hoang dã, ăn uống sống sít, dịch bệnh lây lan làm thiệt hại nhiều nhân mạng một cách oan uổng. Người cổ đại đã giữ gìn lửa như giữ gìn sinh mạng. Người ta quây quần bên nhau quanh bếp lửa hồng, bày tỏ những buồn vui, trao đổi những kinh nghiệm mưu sinh thoát hiểm, thăng tiến cuộc sống.

Âm nhạc, ca vũ, lễ hội cũng bắt nguồn từ đó và phát triển lên, tô bồi thêm mà nền văn hóa phôi thai bắt đầu nẩy mầm. Nhìn những hiện tượng thiên nhiên, những mảnh đá va chạm vào nhau phát sanh lửa, đã phát minh cách lấy lửa và tìm cách đun sôi nấu chín thức ăn, thay vì chỉ có đốt và nướng. Từ đó ngành đồ gốm, đồ đồng phát triển. Từ hiện tượng đun sôi, nước tăng áp suất mà chế tác động cơ máy móc, biến nhiệt lực thành động lực, điện lực. Cứ thế trình độ được nâng cao và đưa cuộc sống nhân loại càng ngày càng văn minh tiến bộ, chinh phục cả vạn loại trên hành tinh nầy.

Sinh hoạt trại, lửa trại là đưa thanh, thiếu, đồng niên nam nữ tiếp cận với thiên nhiên sống trong lều trại, vui bên nhau quanh bếp lửa hồng là muốn đưa tuổi trẻ về nguồn, thoát vượt ra khỏi mái gia đình, mái trường, không dựa dẫm vào thầy cô, cha mẹ, anh chị, thực tập giao tiếp với cuộc đời và chỉ xử dụng những tiện nghi trong cuộc sống do chính bàn tay và khối óc của mình xây dựng nên. Để tuổi trẻ thấy được giá trị của sức cần lao, biết quý trọng đồng loại đã đổ mồ hôi cực khổ như thế nào khi làm nên chén cơm manh áo và các vật dụng khác mà thận trọng xài dùng không hoang phí.

Lửa tượng trưng cho ánh sáng văn minh, trí tuệ và óc sáng tạo, tượng trưng cho chân lý, lẽ phải và công bằng. Trong đêm tối lửa được thắp sáng lên, mọi vật được phơi bày, không còn sự nhầm lẫn tai hại.

Bóng đêm là biểu tượng của tư tưởng xấu ác, mê lầm, xằng bậy, của hành động cuồng bạo ghê tởm. Tuổi trẻ phải vui chơi quanh lửa, phải giúp trẻ gọi lửa về với cộng đồng.
Có nhiều cách gọi lửa :

– Gọi lửa bốn phương.

– Rước lửa thiêng về.

– Khai lửa tự tâm.

(Đón đọc Trại và Lửa của Tâm Huy Phan Đình Thăng).

Ngày Hạnh, ngày Dũng là những lễ hội truyền thống lớn, nên luôn luôn cần sự đầu tư nâng cao. Ngoài ra, các cuộc giao lưu hay dã ngoại, nên kích thích các em tự biên tự diễn sáng tác tại chỗ, ta sẽ nắm bắt tâm lý các em một cách chuẩn xác, cũng như phát hiện sớm những tài năng đang lên một cách sâu sát và chân tình, giúp hướng dẫn giáo dục các em đạt hiệu quả cao.

Lửa trại thành công là lửa trại được đa số thành viên tham gia đóng góp, là một buổi sinh hoạt không có phân biệt nghệ nhân và khán giả. Đừng nên tổ chức thi đua bên lửa mà hãy để cho tuổi trẻ cống hiến vô cầu. Chủ đề của lửa cũng thông thoáng để tuổi trẻ nhập cuộc vào vùng trời mơ ước trong sáng và bộc bạch mọi ngóc ngách sâu kín trong tâm tư cũng như hiện thực cuộc sống của đời mình. Đừng cắt ngang, đừng stop ẩu dù trẻ có sai sót. Lợi ích của lửa trại không phải ở dở hay, đúng sai, thành bại, mà là từ lửa trại ấy ta rút ra những bài học, ngọt ngào thì nhân lên để hưởng, cay đắng thất bại thì nhắc nhở nhau nhớ đời chớ tái phạm.

* Quản lửa: Tùy theo thời gian đêm lửa trại mà quản lửa, chọn hình thức dựng bếp thích nghi với kỹ thuật phù hợp cách gọi lửa của mình.

Lửa trại tự nó là một bài ca không tên, quản lửa là một nhạc trưởng, chọn cách hòa âm và tiết tấu, khỏa lấp được những sút chốt đáng tiếc, tạo những tình tiết, đưa các tiết mục xung yếu gây ấn tượng mạnh vào lòng người xem qua cách điều khiển ngọn lửa của mình. Một quản lửa giỏi có khả năng không kém một camera tự động ghi hình, không thiếu sót ở bất kỳ góc độ nào, thời khắc nào, mà còn đánh giá một cách trung thực, chính xác. Bởi quản lửa đã chỉ huy giàn nhạc đại hòa tấu. Quản lửa không xuất hiện bừa bãi nhưng có mặt ở góc độ nào cần thiết.

* Quản trò: là gạch nối giữa nghệ nhân và khán giả, và cũng là gạch nối những tiết mục trong đêm lửa trại. Quản trò có thể cùng với quản lửa che giấu những sai sót nếu có, và động viên kích thích sự cổ võ tán thưởng của khán giả để ủng hộ, đẩy sự thành công của vở diễn lên cao.

Câu chuyện lửa tàn:

Giờ vui đã hết, bếp lửa đã tàn, quản lửa khéo léo rút những thanh củi còn dở dang ra ngoài, không để ai thấy. Bếp lửa chỉ còn toàn than hồng không lên ngọn và không thể đột biến bật sáng. Chuẩn bị một ít cát để rắc vào than từ từ, và khi câu chuyện chấm dứt là không còn nhìn thấy than hồng nữa. Lửa hồng thật sự đã được đưa vào tim.

Người nói câu chuyện lửa tàn là một trong những nhân vật trong BQT, đại diện cho anh chị trại trưởng, đầu óc phải thật sự nhạy bén, đúc kết được những buồn vui thành bại của cuộc trại và những thao thức của BQT muốn trại sinh phải ghi nhớ, thể hiện cụ thể qua hành động của mình khi chia tay trên đất trại. Nội dung ngôn ngữ phải súc tích, chuẩn xác, ngắn gọn, diễn cảm âm lượng lên xuống tạo sự chú ý lắng lòng tiếp thu.

Sau câu chuyện lửa tàn, toàn khu vực trại phải tắt lửa chỉ tịnh, không được ca hát cười nói chuyện trò. BQT làm việc ở lều riêng có che chắn và yên lặng. Kể từ sau giờ phút thiêng liêng ấy, trại sinh thật sự tĩnh tâm, soi rọi lại mình mấy mươi giờ qua, có điểm nào cần xin lỗi bạn bè, còn có thời gian tạ từ nhau, hay có sự ngưỡng mộ nào cần bày tỏ kết thân cũng còn kịp để trao đổi. Vì chỉ còn mấy giờ phù du nữa thôi là lễ bế mạc, và phút chia tay lên đường phải đến.

Một kỳ trại có thành công hay không là khi Đời Sống Trại tập họp chung, kiểm tra số lượng trại sinh và hành trang cụ bị mang theo, báo cáo tổng kết tinh thần trại, tuyên bố hoàn tất nhiệm vụ, trao còi lệnh lại cho Thư Ký Trại, Thư Ký tổng kết thành quả của trại lên Trại Trưởng và BHD, tất cả cung lòng đều thổn thức, có một vị ngọt ngào nào đó trong cổ mọi người , cộng một chút cay cay trên mắt, tất cả đều yên lặng, lắng lòng, không ganh tị bực bội dù thành quả như thế nào. Trong ánh mắt mở rộng, các trại sinh lẫn BQT đều cố ghi hình ảnh thân thương nầy vào tận đáy tâm hồn.

Khi đơn vị cuối cùng rời đất trại, BQT mới từ từ ra về. Hình ảnh của anh chị trong BQT là hình ảnh của người chăn đàn, kiểm soát, che chở, cứu hộ, giúp đỡ đàn em, cần cù, nhẫn nại, khiêm tốn, cởi mở và độ lượng. Âm thầm mà bền bĩ, dịu dàng nhưng cương quyết dứt khoát trong xử lý. Là hình ảnh của những lữ hành cô đơn nhưng không lúc nào thoái xuất chí hướng.

VI- KẾT LUẬN.

Ngày Hạnh truyền thống không đơn thuần chỉ vào lễ hội vui chơi hằng năm của chị em, mà nơi đây sẽ vạch chương trình thực hiện cho cả năm. Các đề án chuyên ngành Oanh, Thiếu và Nữ Phật tử phải có nhiệm vụ hoàn tất một cách viên mãn. Các sổ Hiếu, sổ Hạnh được kiểm tra và chỉ đạo thực hiện đáp ứng nhu cầu hoàn cảnh và môi trường từng địa phương. Qua các cuộc họp mặt, giao lưu, huấn luyện và đào tạo đội ngũ cán bộ (Huynh Trưởng) chuyên năng. Chúc các chị em định hướng vào đời một cách sáng suốt và sẵn sàng dấn thân vì lợi ích của tổ chức, của cộng đồng. Chúc chị em thành đạt trên mọi lãnh vực của đời thường.

BBT

4440 lượt xem