PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC QUAN NĂNG
DÀNH CHO NGÀNH ĐỒNG

A. DẪN NHẬP

Gia Đình Phật Tử Việt Nam là một tổ chức giáo dục sinh hoạt tu học cộng đồng dành cho các lứa tuổi THANH – THIẾU – ĐỒNG NIÊN con em của đạo hữu tín đồ Phật Giáo và những gia đình tin Phật.

Giáo Dục của tổ chức GĐPTVN đặt cơ sở trên tinh thần HƯỚNG DẪN và THỰC HÀNH khác với nền giáo dục thế tục là DẠY và HỌC.

Quan hệ giáo dục là QUAN HỆ ĐỒNG HÀNG tức quan hệ như Anh Chị Em trong cùng một gia đình, nhắc nhở bảo ban sách tấn, động viên nâng đỡ nhau – Lấy tình thương làm động lực, Lấy đạo lý làm phương châm – để thực hiện cứu cánh là khai mở trí tuệ bồ đề. Khác với quan hệ THẦY (CÔ) TRÒ như nền giáo dục thế tục hay quan hệ giữa sư phụ và đệ tử như trong thiền môn.

Nền Giáo Dục nầy lấy Sinh Hoạt làm phương tiện hướng dẫn chứ không đơn thuần dùng từ chương khoa giáo nên không đặt nền móng trên trình độ thế trí.

Sinh Hoạt là biến đề tài học tập thành chủ đề vui chơi sinh động trên ba cơ sở : THÂN (thao tác về chân tay đầu mình) KHẨU (tiếng nói, ca hát, hò vè đối thoại) Ý (Mục đích ý nghĩa của đề tài) đòi hỏi thành phần Huynh Trưởng phải biết đạo diễn và biên soạn kịch bản để thực hiện. HỌC MÀ CHƠI, CHƠI MÀ HỌC.

Tu học. Học là để nắm rõ mục đích ý nghĩa diễn tiến của đề tài được hướng dẫn một cách cụ thể. Tu để đi đến thực hành chỉnh sửa thân khẩu ý hành của thân tâm bỏ điều sai điều xấu, điều ác thực hành điều tốt điều hay điều lành. Tạo cho đoàn sinh một tinh thần tự tín tự chủ, có bản lãnh lịch duyệt tin yêu cuộc đời và là những nhân tố sống động hữu ích trên bình diện nhân sinh góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật Giáo. Tổ chức GĐPTVN không phân biệt thành phần giai cấp xã hội. Tinh thần nầy đặt cơ sở trên hai lĩnh vực:

– Không có giai cấp khi dòng máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn.
– Giá trị thực hữu của một con người là những gì anh đã đóng góp cống hiến cho cuộc đời chứ không do sự kế thừa từ giòng giỏi huyết thống, từ giai cấp mà con người được thọ sanh.

Tổ chức Giáo Dục nầy nhằm:
– Thăng tiến đồng bộ lẫn nhau
– Chia xẻ những bất hạnh cũng như thành tựu hầu hoàn thiện tự thân và trách nhiệm đối với cộng đồng.
– Học viên cùng một bậc học có nhiều trình độ thế trí khác nhau.

Để thực hiện sứ mạng giáo dục sinh hoạt tu học cộng đồng của tổ chức đạt kết quả viên mãn. Tổ chức GĐPTVN có kiến lập hai phương pháp tổ chức và hình thức thực hiện mang tính cách tổng hợp đó là:

– PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC QUAN NĂNG.
– PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC HÀNG ĐỘI CHÚNG TỰ TRỊ. (dành cho hai ngành Thanh Thiếu)

Huynh Trưởng các cấp phải nắm cho thật vững hai cách tổ chức Giáo Dục sinh hoạt tu học nầy.

PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC QUAN NĂNG.
(Dành cho ngành đồng)

Đào luyện học viên trên ba khả năng:
– Khả năng NGHE.
– Khả năng NHÌN.
– Khả năng mô tả kết hợp.

Do vậy đòi hỏi phải lựa chọn khung cảnh thích hợp. phải có trợ cụ hướng dẫn và trợ cụ học tâp.

Nên khi hướng dẫn cho ngành đồng bất cứ vấn đề gì cũng có thể hiển dụ cho trẻ thấy được nghe được mô tả được hiện thực của đề tài. Tuỳ theo độ tuổi mới tiến đến vấn đề so sánh và phân biệt. Huynh trưởng chưa qua một trại khoá huấn luyện nào về ý thức phân biệt so sánh đi đến chấp ngã và chấp pháp là hỏng. Phải ý thức rõ nét: Đàn của các em được xây dựng chỉ có sáu em. Có nghĩa anh chị em chỉ có phát khởi khả năng tiếp thu từ: MẮT – TAI – MŨI – LƯỠI – THÂN – Ý. (Đặt biệt ở đây là Ý căn. Căn môn nầy khi tiếp xúc với Pháp trần mới sinh khởi Ý thức.) Cho nên khả năng hướng dẫn của Trưởng đặt nhiều hy vọng phát khởi khả năng của năm giác quan. Mắt tai mũi lưỡi thân Tại sao? Anh chị em phải thảo luận kỹ vấn đề nầy. Huynh Trưởng tham gia thảo luận phải có cơ sở nhận định trên nền tảng duy thức học. Hàng Huynh Trưởng hướng dẫn hội thảo và thư ký đoàn phải nắm vững đề tài để hướng dẫn xu hướng lý luận đạt thành quả cao.

PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC HÀNG ĐỘI CHÚNG TỰ TRỊ.
(Dành cho hai ngành Thanh Thiếu)

Điều tối kỵ là Huynh Trưởng soạn thảo giáo án công phu rồi giảng giải cho các em thao thao bất tuyệt. Vì như vậy các em có trình độ thế trí kém không thể nào tiếp thu nổi. Sự phân biệt trình độ sẽ nẫy sinh từ đó. Kẻ có học được sùng thượng, kẻ kém học bị xem thường. Ý thức thăng tiến đồng bộ bị phá vở. Đây là vấn đề cốt lỏi. Trên con đường giác ngộ đến thức. Học vị thế gian chỉ là phương tiện, không phải cứu cánh.

Ngài Châu Lợi Bàn Đặc, ngài Ni Đề, ngài Ưu Ba Ly v…v… hầu như chưa biết chữ nhưng lại là những bậc thượng thủ đầy tài năng về việc nhiếp chúng.

Phương pháp nầy tạo khung cảnh môi trường thích hợp cho tuổi trẻ chung sống học tập và làm việc chung với nhau. Ý thức lục hoà được khai thác trên tinh thần cộng trụ. Tạo ý thức trách nhiệm về sự được mất nên hư, thành công thất bại, và Uy Danh của tổ chức, của tập thể lên trên quyền lợi cá nhân. Do vậy giáo án phải là một kịch bản sống động để cho trẻ tham gia thảo luận tranh biện, phát huy sáng kiến và tư duy một cách sáng tạo không chủ định trước.

Bản năng bộc phát cá tính hiển bày, Huynh Trưởng mới có thể hướng dẫn, bổ sung, lựa lọc uốn nén các em, tạo hiệu quả giáo dục cao, thành toàn mục đích mà tổ chức đã trao phó. Lại còn một vấn đề khá quan trọng không được nhầm lẫn. Hai phương pháp tổ chức hình thức sinh hoạt nầy với bốn phương pháp giáo dục:

– Phương pháp lý giải.
– Phương pháp hoạt động.
– Phương pháp quán niệm.
– Phương pháp Huân Tập.

Viết đến đây tôi vô cùng xúc động bởi chư tôn đức cố vấn, sáng lập, các anh chị tôn trưởng của chúng ta đã kiến lập xây dựng một mô thức giáo dục sinh hoạt tu học cộng đồng quá ư sắc sảo, khả thi và diệu dụng. Có điều hàng Huynh Trưởng kế thừa chưa hoàn thành sứ mạng triển khai hoàn chỉnh khâu lý thuyết, phương pháp triển khai, kế hoạch thực hiện cụ thể từng phương pháp một.

Trong tài liệu và chương trình huấn luyện đào tạo Huynh Trưởng từ Lộc Uyển đến Vạn Hạnh đều có đề cập đến các phương pháp giáo dục trên. Nhưng chỉ có nói đến một cách chung chung. Ấy thế mà đã đạt hiệu năng khá cao, duy trì củng cố và phát triển tổ chức cho đến hôm nay. Đó là một phép lạ. Phật pháp là huyền diệu vô biên. Tôi hy vọng sau cuộc hội thảo nầy, một số không nhỏ các Huynh Trưởng hội thảo viên thấy được sự bất cập ấy mà gia công nghiên cứu hoàn thành sứ mạng nầy.

Chị Tâm Minh anh Nguyên Hoành, anh Tâm Huy và tôi đã kinh qua bao năm tháng trăn trở về vấn đề nầy và khi bắt tay vào việc thì thấy vấn đề thật nhiêu khê. Chương trình tài liệu của chúng ta, đặt cơ sở trên kinh điển đại thừa – Gia nhập biển lớn – biển trí tuệ mà chưa cụ bị khả năng điều khiển tàu bè ghe phao, la bàn bản đồ, máy định vị rada hay những phương tiện thô sơ trên kinh lạch ao hồ. Do vậy chúng tôi trở về với kinh điển Nguyên Thuỷ làm nền tảng rồi mới đi vào kinh điển đại thừa. Con đường nầy không giản đơn thực hiện trong năm ba năm mà là cả hàng chục năm và nhiều năm sau nữa. Nhưng dù sao thì chúng tôi cũng cố hết sức vạch cho được con đường mòn, làm những mảnh đá lót đường cho các hàng huynh trưởng kế tiếp mở rộng và hoàn chỉnh trong tương lai.

Trong các khoá Huấn Luyện Huynh Trưởng Lộc Uyển, A Dục và Huyền Trang tại Trung Ương và các tỉnh, tôi thấy nguồn tài nguyên nầy không thiếu. Kỳ vọng lắm thay!

B. PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC QUAN NĂNG
(Áp dụng cho ngành Đồng từ Sen Non cho đến bậc Tung Bay. Cụ thể từ 6 tuổi đến 12 tuổi tròn)

NHỮNG ĐIỀU CĂN BẢN:

Nói đến Giáo Dục là nói đến sự trao truyền, sự tiếp thu, phát triển và thăng hoa cuộc sống. Giáo dục ngành đồng là đặt nền móng cho sự nghiệp giáo dục ấy trên căn bản của chánh pháp.

Muốn cho các em đi xa (nghĩa đen lẫn cả nghĩa bóng) cần tập dợt cho các em có đôi chân chắc khoẻ và tự tin vào chính mình.

Muốn cho các em bay cao cần tập dợt cho các em có đôi cánh khoẻ biết tung bay, biết lướt gió, biết thư giản giữa đất trời bao la. Và phương tiện hành xử của các em là khả năng của các giác quan

Khi các em sử dụng thông thạo các phương tiện nầy trên những con đường xa. Các em tránh được những hầm hố, suối khe mương rạch thác ghềnh và có cách vượt qua an toàn.

Trên lộ trình bay cao các em tránh được phong ba, bão táp, mưa nắng sấm sét và các loài chim dữ

1.- SÁU GIÁC QUAN:

Con người ta bình thường ai cũng có sáu giác quan. Đó là: MẮT – TAI – MŨI – LƯỠI – THÂN – Ý. Do vậy về mặt tổ chức mỗi đàn có 6 em. Mắt tai mũi lưởi thân ý hoàn hảo thì con người sinh hoạt đi đứng nằm ngồi an lạc hạnh phúc. Sáu em hoà thuận chung sức chung lòng, yêu thương giúp đỡ bảo bọc nhau thì đàn phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực từ sinh hoạt vui chơi đến học tập.

a.- MẮT: Cơ quan tổng quản về quang học duyên với ánh sáng xúc với Sắc trần mà các pháp được xác lập.
Thí dụ bước vào một căn phòng với đôi mắt tốt không tật bệnh, đầy đủ ánh sáng. Mọi vật trong nhà được ghi nhận như bàn ghế tủ giường, ra nệm, gối chăn v.v…
Tập cho các em quan sát ghi nhận vị trí và sự hiện hữu của sự vật đúng như hiện trạng của nó. Không đề cập đến tính từ và thuộc từ nẫy sinh từ sự so sánh phân biệt mà có… Từ đó sự mô tả mới có hiệu quả, phục vụ cho sự hướng dẫn của chúng ta.

b.- TAI: Cơ quan tổng quản về Động Lực Học duyên với hư không xúc với Thanh trần mà các thứ bậc chỉ số âm thanh được hình thành.
Thí dụ bước vào một lớp học, nghe được tiếng trao đổi thì thầm của học sinh. Âm thanh sột soạt lật dở sách vở. Tiếng thầy giáo giảng bài. Tiếng phấn chạm trên bảng. Tiếng giày dép của thầy cô nhẹ êm qua lại trong phòng học. Khi hướng dẫn các em mô tả thanh trần thứ bậc và chỉ số âm thanh đúng như hiện lượng của nó được phát sinh. Không đề cập đến tính từ và thuộc từ nãy sinh từ sự so sánh phân biệt mà có. Từ đó sự mô tả mới có hiệu quả, phục vụ cho sự hướng dẫn của chúng ta.

c.- MŨI: Cơ quan ghi nhận Mùi duyên với hư không xúc với Hương trần mà thứ bậc nồng độ của mùi vị được định lập.
Thí dụ bước vào một vườn hoa ta phát hiện nhiều mùi hương. Không mùi nào giống mùi nào. Dụ như đi vào một quán ăn. hướng dẫn các em ghi nhận và mô tả như hiện thực đã được ghi nhận. Không đề cập đến tính từ và thuộc từ của nó nảy sinh từ sự so sánh phân biệt mà có. Từ đó sự mô tả mới có hiệu quả phục vụ cho sự hướng dẫn của chúng ta.

d.- LƯỠI: Cơ quan ghi nhận vị giác duyên với nước bọt xúc với vị trần mà thứ bậc chua cay, mặn ngọt, đắng chát được xác lập. Hướng dẫn cho các em mô tả đúng như hiện trạng của nó. Không đề cập đến tính từ và thuộc từ nãy sinh từ sự so sánh phân biệt mà có. Từ đó sự hướng dẫn của chúng ta mới đạt hiệu quả cao.

e.- THÂN: Tổng hợp mọi cơ quan và nội tạng duyên với hư không tiếp xúc với xúc trần mà cảm giác phát sinh lạnh nóng, êm mát, đau nhức, sung sướng, đau buồn v…v… Hướng dẫn các em mô tả chân xác như hiện trạng của nó được ghi nhận. Không đề cập đến tính từ hay thuộc từ nãy sinh từ sự phân biệt và so sánh mà có. Từ đó sự hướng dẫn của chúng ta mới đạt hiệu quả cao.

f.- Ý: Là cơ quan tổng hợp về nhận thức. duyên với năm cơ quan trên xúc với Pháp trần mà phát sinh ra chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức. nhưng cũng chưa đề cập đến tính từ và thuộc từ nãy sinh từ sự phân biệt và so sánh mà có. Từ đó sự hướng dẫn của chúng ta mới đạt hiệu quả cao.

2.- THỨC PHÁT SANH:

Phần nầy vô cùng quan trọng bởi nó liên hệ đến duyên sanh, đòi hỏi Huynh Trưởng phải ghi nhận sâu sắc về sự tham gia của ý. Ngã chấp phát sanh đòi hỏi sự quán chiếu mới thấy sự xen lấn tham gia vào của Dục Tham từ đó không toại ý thì sân tâm khởi. Hành động đi theo sau Sân dẫn đến những sai lầm đáng tiếc gọi là Si Mê. Có nắm được trình tự nầy ta bước vào sự hình thành của thức và muốn hạ thủ tu trì thoát vượt tử sanh biến trí thành thức ra sao mới có thể thấy rõ bản lai diện mục của tam giới và vạn pháp.

a.- MẮT: Mắt duyên với ánh sáng, xúc với sắc trần cho ta sự hiểu biết về sắc trần. Ta gọi là nhản thức. Nhản thức vốn vô tội, nhưng khi có ý tham gia thì ý thức chấp ngã phát sinh và cái của tôi (ngã sở) hình thành. Không thấy bản lai diện mục của chính mình (hay vạn pháp) nên vô minh phát sanh. Nếu có sự tham gia của dục tham thì nội kết mỗi lúc một bền chắc. Đứa con hoang bỏ nhà ra đi từ dạo đó.

b.- TAI: Duyên với hư không xúc với thanh trần cho ta sự hiểu biết về thanh trần ta gọi là Nhĩ Thức. Nhĩ Thức vốn vô tội. Nhưng khi có ý tham gia thì ý thức chấp ngã phát sanh và cái của tôi (ngã sở) hình thành. không thấy được bản lai diện mục của chính mình (hay vạn pháp) nên vô minh phát sinh. Nếu có sự tham gia của Dục Tham thì nội kết mỗi lúc một bền chắc. Đứa con hoang bỏ nhà ra đi từ dạo đó.

c.- MŨI: Duyên với hư không xúc với Hương trần cho ta sự hiểu biết về hương trần gọi là Tỷ Thức. Tỷ thức vốn vô tội, nhưng khi có ý thức tham gia thì ý thức chấp ngã phát sinh và cái của tôi (ngã sở) hình thành không thấy được bản lai diện mục của chính mình (hay vạn pháp) nên vô minh phát sanh. Nếu có sự tham gia của dục tham thì nội kết mỗi lúc một bền chắc. Đứa con hoang bỏ nhà ra đi từ dạo đó.

d.- LƯỠI: Duyên với nước bọt, xúc với vị trần cho ta sự hiểu biết về vị trần gọi là Thiệt thức. Thiệt thức vốn vô tội. Nhưng khi có ý thức tham gia thì ý thức chấp ngã phát sanh và cái của tôi (ngã sở) hình thành. không thấy được bản lai diện mục của chính mình (hay vạn pháp) nên vô minh phát sinh. Nếu có sự tham gia của Dục Tham thì nội kết mỗi lúc một bền chắc. Đứa con hoang bỏ nhà ra đi từ dạo đó.

e.- THÂN: Duyên với Hư không tiếp xúc với Xúc trần cho ta sự hiểu biết về Xúc Trần gọi là Thân Thức. Thân thức vốn vô tội. Nhưng khi có ý thức tham gia thì ý thức chấp ngã phát sanh và cái của tôi (ngã sở) hình thành. không thấy được bản lai diện mục của chính mình (hay vạn pháp) nên vô minh phát sinh. Nếu có sự tham gia của Dục tham thì nội kết mỗi lúc một bền chắc. Đứa con hoang bỏ nhà ra đi từ dạo đó.

f.- Ý: duyên với hư không xúc với pháp trần cho ta sự hiểu biết về pháp trần gọi là ý thức. Ý THỨC PHÁT SINH KHÔNG PHẢI VÔ TỘI, vì khi tiếp xúc với pháp trần bao gồm cả Sắc-Thanh-Hương-Vị-Xúc nên ý thức chấp ngã phát sanh và cái của tôi (ngã sở) hình thành không thấy được bản lai diện mục của chính mình (hay vạn pháp) nên vô minh phát sanh. Nếu có sự tham gia của Dục Tham thì nội kết mỗi lúc một bền chắc. Đứa con hoang bỏ nhà ra đi từ dạo đó.

3.- CHẤP NGÃ VÀ NGÃ SỞ LÀ KHÔNG THẤY BẢN LAI DIỆN MỤC CỦA MÌNH (HAY VẠN PHÁP):

Người chấp ngã cho cái ta là thật có nên rơi vào chấp thường. Từ đó ra sức phụng sự bảo vệ và gìn giữ, chống lại bất cứ ai thế lực nào xúc phạm lăng nhục ta và không từ nan một hành động nào để hiển lộng cái ta là hơn hẳn tha nhân. Chính vì ý thức chấp ngã mạnh mẽ như vậy mà trở thành ngạo mạn và điên đảo. Sự chấp ngã nầy chủ trương cho rằng con người từ khi sinh ra cho đến khi chết đều có một linh hồn. Linh hồn nầy làm chủ mọi ý nghĩ hành động và việc làm và dĩ nhiên khi chết linh hồn sẽ chọn cảnh giới tốt đẹp để đầu thai. Đối với Phật Giáo đây là một quan điểm hoàn toàn sai lầm. Vì theo đạo Phật tuỳ hành động của Thân Khẩu Ý tạo nghiệp cột buộc thức đầu thai vào thế giới tương ưng. Thân khẩu ý hành thiện thì sanh vào cảnh giới thiện lành. Thân khẩu ý hành ác thì sanh vào cảnh giới bất thiện. nhân nào quả ấy, không thể khác được. Cho nên chấp ngã là không tin vào nhân quả, nghiệp báo luân hồi và dĩ nhiên muốn mình là nhất trên mọi lĩnh vực và có quyền sở hửu. Ý thức sai lầm nầy là nội kết. Bao gồm thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, tà kiến. Khi ta không hiểu được ta. Ta hiểu về ta một cách sai lầm. Dẫn đến cái của ta cũng sai lầm, bởi không có thực. Ta lấy vọng làm thực. Trong kinh thường gọi ta lấy giặc làm con, làm sao cuộc đời có an ổn và hạnh phúc. Đứa con bỏ nhà ra đi từ dạo đó là như thế. Trong khuôn khổ một bài tham luận ta không thể giải thích hết mọi sự kiện về vấn đề chấp ngã và phá ngã bằng những phương pháp phân tích nhân duyên và quán chiếu ngủ uẩn giai không. ACE phải tham cứu thêm. Điều đặc biệt chú trọng là nói về sáu thức. Tôi chỉ nhấn mạnh về năm thức và kết thúc bằng thức thứ sáu. Khi nói về “Phương Pháp Giáo Dục hàng đội chúng tự trị” ta sẽ đề cập đến tám thức một cách rộng rải hơn.

4.- TAM GIỚI DUY TÂM, VẠN PHÁP DUY THỨC:

Dục Giới, Sắc Giới, Vô sắc Giới, Đức Thế Tôn đã kinh qua vô lượng số kiếp qua lại vào ra. Sự trải nghiệm đó ngài đã mượn chữ tâm với dụng ý như một tấm gương soi. Bất cứ cảnh giới nào xuất hiện nó đều hiện rỏ trong gương (tâm) khi cảnh giới qua đi, gương không có gì cả. Do vậy gương (tâm) có thể ảnh hiện vô lượng vô biên cảnh giới không sót mất. Khi căn thân với môi trường tương ưng xúc với trần, Ý thức phát sinh. Khi thức đắm vào trần nào, với sức nội kết mạnh mà thọ phần sanh thân.

Vấn đề nầy giải thích rỏ tại sao có những thần đồng trên mọi lĩnh vực sinh hoạt trong nhân sinh như âm nhạc, hội hoạ, toán học, thiên văn, vật lý, hoá học v.v…

Ở đây tôi muốn tóm lược: Khi tâm động thì tam giới là vô lượng vô biên. (tam thiên đại thiên thế giới) hiện tiền. Khi thức động thì vô lượng thế giới hiện khởi. Khi tâm tịnh thì tam giới giai không. Ta và tam giới không hai. Khi thức tịnh thì vạn pháp giai không. Ta và pháp giới là một Không cần phải đăng xuất đăng nhập gì cả.

5.- CHUYỂN THỨC THÀNH TRÍ:

Đây là quá trình tu tập chứ không phải lý thuyết. Bởi nó đòi hỏi hành giả phải quán triệt tánh phần và tướng phần của các pháp rồi theo thứ tự đoạn hoặc mới có thể biến thức thành trí.

Anh chị em xem lại mục hai. Thức phát sanh. Khi căn duyên với môi trường thích hợp xúc với trần thì Thức xuất hiện. Nếu ta loại bỏ sự tham dự của Ý và dục tham là Thanh tịnh được tiền ngủ thức. Ta sẽ chuyển năm thức nầy thành “Thành sở tác trí”

Thanh tịnh được thức thứ sáu là ý thức. Tức thức chấp ngã và ngã sở. Ý thức liền chuyển thành Diệu Quang Sát Trí.

Thanh tịnh được Mạt Na Thức tức diệt được các chủng tử đã tạo từ vô lượng kiếp kết quyện nhau mà sanh vào đời nầy (Tức chủng tử câu sanh Tham sân si mạn nghi) thì chuyển Mạc Na Thức thành Bình đẳng Tánh Trí. Khi Mạc Na Thức chuyển thành Bình đẳng Tánh trí. Thì A Lại Da Thức chủng tử bất thiện đã tiêu. Chỉ còn những vi tế lậu hoặc. Đoạn trừ vi tế lậu hoặc nầy ta chứng được ĐẠI VIÊN CẢNH TRÍ.

C.- ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC QUAN NĂNG.

Khi chúng ta hướng dẫn các em một đề tài bất kỳ thuộc bộ môn nào ta cũng phải có hình ảnh trợ cụ cho các em quan sát nghe ngóng, thưởng thức chứng nghiệm sờ mó sử dụng rồi mới dẫn giải.

Thí dụ khi hướng dẫn đề tài về Tam Bảo. Phải đưa các em đến bên một pho tượng Phật, hoặc có sẳn một pho tượng Phật vừa phải trước mặt để các em cùng quan sát chung. Nếu không có tượng thì hình ảnh. Xong đặt những câu hỏi để các em trả lời như:

– Tóc của Phật như thế nào?
– Trên đỉnh đầu đức Thế Tôn có cái gì?
– Tai Phật có gì đặc biệt?

Lần lược như thế quan sát hết 32 tướng hảo, ghi nhận và mô tả đúng như: Tóc xoăn, Trên đỉnh đầu có nhục kế, Tai Phật to dài trong ngoài có thành quách đẹp, mủi cao kín thẳng. ngực đầy có hình chữ vạn. Tay chân thon dài mượt mà. v.v…

Pháp thì cho các em xem cuốn kinh, hay luật luận. cho các em nghe một đoạn kinh được ghi âm. Chỉ cho các em thấy hình ảnh của quý thầy cô trong chùa, Cách đi đứng làm việc và giao tiếp xưng hô. Cách ăn uống ngũ nghỉ, công việc hàng ngày.

Biểu Tượng: mỗi nét đẹp hay xấu là một biểu tượng của hành động. Thân hành, khẩu hành và ý hành. Thân khẩu hành tốt thì có tướng tốt và ngược lại.

Tương tự như vậy xây dựng các bộ môn khác rồi đi đến kết luận: Chúng ta muốn như Phật. Luận giải như Pháp. Hành trì thực tâm như Tăng thì chúng ta phải làm thế nào trong cuộc đời nầy?

Lại vạch cho các em thấy: Tại sao ACE không cho ý thức xen vào. Vì nó sẽ so sánh phân biệt lý giải hơn thua đẹp xấu. Các từ nầy làm xa lánh tánh thật của các pháp.

Thí dụ: Cỏ có cái đẹp của cỏ. Hoa Hồng có cái đẹp của Hoa Hồng. Không có cái nào hơn cái nào. Trên một thảm cỏ, có một chị hoa hồng khoe sắc. Người làm vườn sẽ nhổ và vứt đi. Trong chậu hoa hồng dù xấu nhưng nếu có anh cỏ cứ tốt tươi. Người làm vườn thấy được nhất định cũng nhổ lên và vứt đi. Như vậy ta hướng dẫn cho trẻ ghi nhận đúng sự kiện rồi tuỳ thời tuỳ lúc mà áp dụng thì không lỗi. Đó là kiến văn của người trí là HUỆ.

Tổ chức GĐPTVN kiến lập tài liệu tu học trên nền tảng VĂN – TƯ – TU. Phương pháp giáo dục Quan Năng là bước đầu tạo cho trẻ ghi nhận và hiểu biết của các giác quan là đã tạo cho trẻ:

VĂN HUỆ : Thấy nghe hay biết như thật tướng
TƯ HUỆ : Suy luận từ Thực Tướng đến hành. Ba Hành Thân khẩu Ý Hành.
TU HUỆ : Những điều nên làm và những điều nên tránh.

Vấn đề áp dụng cần thảo luận và mở rộng nghiên cứu sâu. Đây chỉ là sự khai mở trên một vài góc độ điển hình mới có thể đúc kết xuyên suốt vấn đề không chỉ giới hạn trong hàng Huynh Trưởng ngành đồng. Các trại chuyên năng, như trại đào tạo Huấn Luyện Viên (Phú Lâu Na) Trại đào tạo Đời Sống Trại (Ca Diếp) Trại Đào Tạo Trại Trưởng (Xá Lợi Phất) đều cũng cần nắm bắt mới có thể uốn nén thế hệ trẻ đi vào đời sống bằng sự chứng tri dấn thân chứ không thuần trao truyền sự nhận biết để hành xử.

D.- NHỮNG QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC NGƯỢC LẠI:

1.- QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC THẾ TRÍ HIỆN ĐẠI:

Mở rộng căn bản nhận biết ngày càng nhiều lãnh vực trong cuộc sống đến nhánh cành lá lú của vấn đề. Nhu cầu cuộc sống ngày một phức tạp và chi li hơn. Muốn thoả mãn nó con người phải lao tác cực nhọc hơn.

Có quan niệm giáo dục chuyên sâu thì lại xây dựng nên những con người mất quân bình trong cuộc sống. Cả hai đều tự đánh mất mình và là tên nô lệ cần mẫn cho những nhu cầu phức tạp của chính mình.

2.- QUAN NIỆM CỦA MẠNH TỬ:

Mạnh Tử thì cho rằng tuổi trẻ tâm hồn sáng trong như một tờ giấy trắng. “NHÂN CHI SƠ TÁNH BỔN THIỆN” Con người lúc mới sinh tánh vốn thiện. Tánh nầy chúng sanh vốn gần nhau. (Tánh tương cận) Nhưng giao tiếp với môi trường xã hội tác dụng vào làm cho xa cách nhau (Tập tương viễn)

Hội thảo viên có thể nêu lên nhiều quan điểm giáo dục mà mình biết để cùng nhau phân tích và so sánh với quan điểm của Phật Giáo mới thấy giá trị những gì mình đang cần mẫn siêng làm.

3.- QUAN ĐIỂM CỦA PHẬT GIÁO:

Khi ta chết, thân tứ đại trở về với cát bụi. Có nghĩa thân tứ đại chỉ là phương tiện để hiện hữu để thọ báo những nghiệp đã tác tạo. Thân trung ấm dưới sự hướng dẫn của nghiệp thức chọn thọ phần sanh thân tiếp theo. Khi đã thọ hậu thân, mọi thấy nghe hay biết của tiền thân chấm dứt, nhưng các chủng tử tích tụ từ vô lượng kiếp vẫn cứ huân tập với một quán tính mạnh, để nẫy sanh hiện hạnh ngay từ trong thai nhi. Nếu nghiệp tạo là những duyên ân phải trả thì ngay từ giờ phút nầy đã bắt đầu niệm ân, tiêu trừ các tật bệnh của mẹ tạo điều kiện hân lạc cho mẹ và khi ra đời sẽ mang nhiều chủng tử thù đáp thuận khế hợp với những mong mỏi của mẹ cha làm cả nhà đều an vui hạnh phúc. Nếu nghiệp tạo là những oan sai phải trả, thì ngay khi còn trong bào thai đã quậy phá làm mẹ phải đảo điên. Khi đứa hài nhi ra đời. Thức tri không phải là một tờ giấy trắng mà nó mang sẳn những bản hữu chủng tử hay còn gọi là những chủng tử câu sanh. Có thể là thiện có thể là ác. Cho nên sự giáo dục của Phật Giáo là tạo môi trường trong lành để phát triễn những chủng tử thiện, không tái tạo hay tiếp xúc với môi trường bất thiện. Tuyệt đối quán chiếu tầm sát những lỗi của mình mà trừ diệt. Tuyệt đối không nói lỗi của người. Huynh Trưởng phải biết các chủng tử không nằm yên mà nó luôn luôn kết hợp với những chủng tử mới tạo đưa vào (tân huân chủng tử) Chúng không vần xoay một cách lộn xộn mà thứ nào ra thứ ấy. Thiện theo thiện, ác theo ác.

Do vậy sự phát triển của tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt Nam về hình thức không thôi đã tạo môi trường sạch cho xã hội, đã là sự góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật Giáo rồi.

E.- KẾT LUẬN:

Phương pháp Giáo Dục Quan Năng là Hướng Dẫn cho tuổi trẻ Rèn Luyện khả năng tiếp nhận của các Giác Quan nhìn xoáy vào bản chất của sự vật như nó vốn có. Ngăn chận ý thức sở hữu chấp ngã, Làm hiển lộ giáo lý nhân quả duyên sanh, luân hồi nghiệp báo. Đoạn trừ Ái-thủ-hữu. “Thành sở tác trí” mới hình thành. Phá ý thức chấp thường. Chấm dứt điên đảo loạn tưởng. Đây là một hành trình mà hành giả nhà Phật không phải một sớm một chiều có thể thành tựu được. Rất mong anh chị em cẩn thận và ra sức thực hiện trong sứ mạng trồng người của mình. xin đa tạ ./.

THỊ NGUYÊN Nguyễn đình Khôi

2448 lượt xem