Chuyện đời áo Lam – Niềm Tin

Nhà tôi nằm trong một khu xóm khá sâu bên dòng kênh Nhiêu Lộc, nói là kênh chứ khi nước lên thì bề rộng của nó khoảng hơn 30m, nước lớn từ cầu Bông đổ ra cầu Văn Thánh Xa Lộ nên cũng khá sạch nhưng khi nước xuống cũng hôi mùi sình rác đen ngòm. Có thể nói suốt đoạn đời tuổi thơ từ 7 đến 15 tuổi dường như gắn liền với dòng sông rạch đó, đường vào trong xóm ban đêm ánh đèn đường vàng vọt nơi có nơi không đa số là người “mua gánh, bán bưng” đêm về vang rền tiếng “bánh chưng, bánh tét” Tôi đã rất thích và thuộc lòng bài ca Xóm Đêm của nhạc sĩ Phạm Đình Chương từ thuở nhỏ, chính cái xóm này đã nuôi lớn và ươm mầm những ước vọng đơn giản là làm sao nên người hữu dụng của đời tôi..

Dọc theo sông xa xa có những khu cầu tiêu công cộng, hồi đó chỉ có những căn nhà lầu đúc mới làm toillet trong nhà, đa số đều đi cầu công cộng, nhà tôi nằm ngay sông rạch nên không có đi ra chỗ đông người đó! Tôi thấy người lớn kẻ nhỏ gì cũng đều tắm trên con rạch đó không ai bàn luận về dơ hay sạch cả, nhưng có vài lúc tôi đã nghe những câu lý luận đại loại như thế này: “Một con sông dài và rộng lưu thông không ngừng như thế thì không thể nào bị những đám rác rến hay phân bẩn kia làm ô uế được” Về sau tôi lại được nghe người một người thầy giảng pháp: “ Ví như biển rộng bao la một chút rác rến không làm cho biển bớt sạch – Nếu lòng chúng ta rộng lượng thì đâu có bị ai làm mình phải buồn giận lâu…” Dường như đạo lý này ở đâu cũng có chỉ sợ mình không chịu nghiệm ra thôi!

Xóm tôi, nhiều nhà chăn nuôi heo trên dòng kênh đó, nhà tôi cũng nuôi khoảng 20 con (vài heo nái và mười mấy con heo thịt) anh chị tôi hàng ngày phải đi xin cơm thừa canh cặn ở những hàng cơm mang về, khoảng 10 tuổi tôi đã biết nấu cám heo, gánh nước phông tên đường xa(nửa đôi), nấu cơm và rửa chuồng heo rồi. Hồi đó tự mình thích làm người hữu dụng, thích được mẹ khen nên việc gì anh chị tôi làm tôi đều học làm tuốt – đâu biết chính mình rước cái cực khổ đó vào người, nên khi anh tôi chuẩn bị cho tôi đi tu học ở Tích Lan thì nhà tôi lại bàn ra nhà chỉ còn mình hắn là con trai bây giờ đi rồi ai lo cho heo đây! Té ra tôi nợ nần mấy con heo đến thế. sau này mẹ tôi hiểu ra luật nhân quả tránh sát nghiệp, phát nguyện trường chay nên không còn nuôi heo nữa thì lúc đó là năm 1973, vị sư Tích Lan lại sang nói về học phí phải đóng là 4000$/ mỗi năm, nếu bỏ tu hoặc không học nữa là phải đền gấp mấy lần – cả nhà lại sợ tôi tu không nổi lại bàn ra… kéo đến đầu năm 1975, ước nguyện đi tu cũng phải ngừng theo thời thế đổi thay.

Nhà tôi vốn chuyên việc nấu nướng nên dụng cụ bếp núc không thiếu. Cho nên khi về Gia đình Chánh Thọ được phân công mang đồ đạc thì tôi nhận mang theo nồi, nồi lớn, nồi nhỏ gì nhà tôi cũng có; thức ăn chay sống, chín gì nhà tôi cũng đủ. Nhiều khi anh em trong đội nhìn tôi e ngại và ngạc nhiên làm lúc đó mình cảm thấy tự hào nhưng tôi đâu có biết họ chỉ ngạc nhiên vì tôi sao nhiệt tình và “thành thực” đến thế!

Vậy mà kỳ đi dự trại Kiền Trắc do BHD Thủ đô tổ chức năm 1972 chẳng có ai mang thứ gì để ăn, thậm chí 14 người không ai mang theo cả tô, chén vì không có thì giờ để họp phân công, cứ kêu đi trại là lên xe mà đi. Chiều hôm đó anh đoàn trưởng Phúc Bình Nguyễn Văn Thái phải đi mua bắp luộc trong xóm đem ra phân phát mỗi người một trái rưỡi – tới tối khuya bắp tiêu hết nên bụng ai cũng kêu “rột rột” suốt đêm. Ngọn đồi Bác Sĩ Tín Biên Hòa đầy sỏi đỏ, giếng nước chỉ có một cái nên ban quản trại phải điều động một xe bồn nước ngọt của quân đội đến tiếp ứng, sáng hôm đó chúng tôi được phát nắm xôi, ăn xong mỗi người tự “cài” vào bụng thêm hơn ly nước nữa để chống đói; trưa đến có nơi cho cơm nhưng không có tô chén, cả đội tôi phải lấy lá chuối làm chén và nhành khô làm đũa, ai cho bao nhiêu ăn hết bấy nhiêu mà vẫn còn thèm – rút kinh nghiệm từ đó về sau bất cứ trại nào tôi đều thủ sẵn trong ba lô những món lương khô có thể giải quyết được khi đói lòng. Nói đến trại Dũng năm đó mà không nhắc đến Gia Đình Phật Tử Chánh Hạnh quả là điều thiếu sót lớn: Đội trưởng dẫn đội lúc đó là Nguyễn Chí Quang bây giờ đã để đội sinh của mình leo lên cây hái những quả ổi “teo xanh” nên bị kỷ luật trại lúc đó là anh Tuân (Chánh Thiện) phạt bò 3 vòng giữa trời nắng chang chang trên sân sỏi trại trường vang tiếng rên la động lòng khắp chốn. Thật ra đội chúng tôi cũng suýt leo cây hái quả rồi nhưng thấy ổi nhỏ không ngon nên thôi.

Sống trong gia đình lao động, dường như roi đòn là một công cụ đắc lực để sửa trị con cái – hỏi ra thì từ hồi ông bà ngoại đã dạy con bằng cách này nên ảnh hưởng đến đời sau: Nhà dơ cũng bị đòn, bóng đèn bàn thờ ám khói cũng bị đòn… một người bị lỗi thì cả đám anh chị em cùng bị đòn chung. Tôi có một người anh lớn bị đòn nhiều đến nỗi phải bỏ nhà đi về sau gặp một nhà sư ở An Giang và xuất gia hành điệu rồi được đưa lên Sài Gòn thọ giới, được học hành đàng hoàng và thăng tiến nơi Hải ngoại từ đó cho đến nay. Ngày anh tôi đi, không ai biết đi đâu, cứ mỗi năm đem quần áo mua sắm từ tết trước ra ngồi nhìn và khóc cho đến 8 năm sau anh trở về nhà xưa tìm gặp gia đình trong bộ đồ Sa di…. nhưng chúng tôi bị đòn vẫn cứ bị đòn. 20, 30, 40 tuổi gì mà chọc giận mẹ thì cứ phải bị đòn bầm mình. Có vài lần chịu không nổi tôi cũng bỏ nhà đi, lúc thì giữa xe theo nhà người bạn, khi thì phụ giúp cho ban nhạc phòng trà… nhưng chỉ một, hai đêm rồi thứ bảy cũng phải trồi đầu về để mẹ có thời gian đánh mắng rồi ….. Chủ nhật cho mình đi chùa sinh hoạt.

Hồi đó đoàn quán của Gia Đình Chánh Thọ được tọa lạc ngay cửa ra vào chùa nhưng có cái bất lợi là chung vách ngoài với nhà hàng xóm; còn đoàn quán của Học sinh Phật tử thì ở trên căn nhà sàn trên sông – buổi sáng Học sinh Phật tử sinh hoạt, buổi chiều Gia đình Phật Tử sinh hoạt. Thực ra các anh chị trưởng của Học sinh Phật tử cũng từng là huynh trưởng GĐPT, do nhu cầu Phật sự mà các anh đi hỗ trợ thành lập thôi.

Ấn tượng đầu tiên khi bước vào đoàn quán Gia Đình Chánh Thọ là bức tranh vẽ đức Phật Thích Ca thành Đạo sống động mà rất to, to hơn người thật gấp ba, bốn lần. Về sau tôi được biết tác phẩm này là do các anh em huynh trưởng nhà họ Đồng vẽ. Thuở ấy, các anh chị em của anh Thọ, chị Đức, Đồng Phi Hùng, Đồng Minh Quang.. gia nhập Chánh Thọ, mỗi người mỗi vẻ tài danh đàn ca, cầm, kỳ, thi hoạ nổi tiếng một thời, quí anh chị thường nhắc đến bộ tam: Chị Lê Thị Nhan, Đồng Phi Hùng, và anh Hồ Loan đã từng trình diễn tác phẩm thơ nhạc Từ Đàm Quê hương tôi trên đài phát thanh Sài Gòn và nhiều nơi khác.

Cái thuở ấy, Gia Đình Chánh Thọ từ huynh trưởng đến đoàn sinh đều có “ máu” mê văn nghệ nhiệt tình, ca hát bất cứ chỗ nào có thể được, khi có dịp là hát với nhau thâu đêm suốt sáng. Bài hát ở đâu mà hát hoài không hết vậy! Hồi đó mỗi đoàn sinh chúng tôi đều ra công viết một quyển bài hát dày hai, ba trăm trang, lật ra trang nào là hát trang đó, riêng tôi vẽ vời trang trí nội dung bài hát rất “technic colour” trên mỗi đề tựa và nội dung bài hát. Quyển bài hát chia ra làm 3 phần: Nhạc sinh hoạt, nhạc Đạo, và nhạc quê hương. Mỗi tuần sinh hoạt ít ra phải sưu tầm được một bài hát mới thì chúng tôi mới trọn niềm vui. Tôi nắn nót từng câu chữ của bài ca trong niềm trân trọng từng ngày, quyển sổ nhạc lúc đó lên trên con số 100 bài ca. Cho đến một hôm đi sinh hoạt bị lạc mất quyển sổ nhạc đó làm mình tiếc ngẩn ngơ, thôi đành phải mua quyển sổ khác viết lại, nhạc đạo và nhạc sinh hoạt tuy không tăng thêm nhưng những bài hát về quê hương càng lúc càng nhiều hơn.

Những bài hát Đạo nhẹ đưa chúng ta lên đường lý tưởng từ bi, giải thoát; nhạc sinh hoạt và cộng đồng mới mạnh mẽ và tươi sáng làm sao! Nhạc quê hương trình bày thân phận của nước Việt Nam bị chia cắt đôi bờ vĩ tuyến, máu lửa tràn dâng thống khổ khắp các nơi, nơi nào cũng có thể thành bãi chiến trường.

Nghe trong gió thoảng lời này
Hai mươi năm lẻ đạn cày quê hương
Bắc Nam đâu chẳng chiến trường
Thành quê đâu chẳng tang thương phủ đầy
(Hoàng Thoại Châu)

Các huynh trường nam GĐPT thời đó đa số đều vướng vào quân ngũ, nhiều khi về phép có vài ngày là phải từ giã lên đường. Các anh chị một số theo bên này hoặc làm việc cho bên kia nhưng khi vào chùa chỉ chăm chú lo hướng dẫn đàn em tu học nên cả đoàn thiếu Nam chúng tôi không ai biết chuyện gì, hoặc khi biết chuyện đã có bác gia trưởng thời đó là Lệ Trí – Hoàng văn Liên khéo léo giải quyết. Sau này, khi tan cuộc chiến thì mới rõ ngọn ngành, thực hư.

Năm 1970, ban hộ tự một ngôi chùa ở Chợ Đào, Long An mời và bao cả chiếc xe đị chở GĐ Chánh Thọ trình diễn văn nghệ nhân dịp khánh thành chùa. Lúc đó chỉ một Chánh Thọ đảm đương sân khấu với dàn trống, đàn điện, amplifier, ca sĩ, kịch sĩ… trình diễn cho phật tử dưới quê xem. Chợ Đào nổi tiếng với gạo Nàng Thơm nên khi GĐ Chánh Thọ đến, ăn trưa và đi đều được thiết đi những bữa cơm thơm lừng với gạo đặc sản Nàng Thơm Chợ Đào. Đoàn Thiếu nam và Thiếu nữ chúng tôi cùng tập dượt trước hai tiết mục hợp ca Chuyện Quê ta và Đường Việt Nam của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang do anh Thái điều khiển rồi tản ra chờ giờ trình diễn, đoàn thiếu nam kéo nhau ra sau chùa leo cây hái dừa và xẻ ra ăn, giữa chừng kêu lên trình diễn đứa miệng dính đầy cùi dừa trắng hếu, đứa thì để lọt cơm dừa ra khỏi túi khi đánh nhịp chân. Những tiết mục hài kịch do anh Lê Văn Kính, chị Huỳnh Thị Năm…. đóng rất giản dị mà vui cười chân phương, riêng có anh Nguyễn Văn Tư, Nguyễn Văn Thái nổi tiếng với hoạt cảnh Dây tử thần gây ấn tượng sâu sắc suốt quãng đời áo Lam chúng tôi.

Nói đến nguồn nhạc Đạo, thời đó có quyển nhạc Lam hiền quay roneo trên giấy màu rất đắt giá, khó ai có được nên mượn rồi phải tranh nhau mà chép cho hết bài ca trong đó để kịp trả lại. Ai đã từng trải qua những đêm không ngủ sau đêm lửa trại, trong các đêm đại hội… ngồi bên nhau hát ca cho đến khi người cuối cùng gục xuống ngủ là lúc trời rạng sáng.

Hết hát nhạc Đạo rồi đến nhạc quê hương, nhưng quê hương của thời niên thiếu chúng tôi rất kỵ những chuyện tình trai gái, trong đó chỉ đơn thuần hát về tình đất nước, thân phận quê hương trong chiến tranh, những bài đồng dao, những bài ngợi ca các địa danh…Nhớ quá những tháng ngày ôm thùng lạc quyên cứu trợ nạn lụt miền Trung qua những xóm dệt khu Ngả Tư Bảy Hiền, hay giúp đỡ những khu nhà cháy Bùi Viện, Cầu Bông, hay xóm chùa… những nơi mà đồng bào khó khăn hoạn nạn. Còn nhớ năm xưa đoàn Thiếu Nam Chánh Thọ treo trên ngọn cờ một trái bầu hồ lô nhỏ, lúc lắc qua lại như gậy tiên ông, đó là sức sống, khéo tay chung của một thời tuổi trẻ mà đến nay khó tìm lại được.

Cho đến khi tôi đủ tuổi làm huynh trưởng thì thời thế rẽ qua một bước ngoặt khác. Mặc dù Chánh Thọ vẫn liên tục sinh hoạt trong vô vàn khó khăn nhưng những cánh chim của một thuở sinh động cùng lúc bay xa. Danh sách huynh trưởng đã từng sinh hoạt trong lịch sử GĐ Chánh Thọ tuy đã lên đến khoảng 160 người nhưng đến bây giờ gặp lại thì không được mấy người.

Chu niên của Gia đình Chánh Thọ là ngày Thành Đạo – mỗi khi hành lễ đoàn thiếu nam chúng tôi khệ nệ bưng bức tranh Thành Đạo làm lễ đài chính, cuối năm 1980 bàn thờ còn đặt trên cây Si để đại chúng ngó lên tụng sám Thành Đạo. Chùa Vạn Thọ có lệ là trồng một cây Si và một cây Bồ Đề đó là dụng ý của tổ sư khai sơn khuyến tấn đệ tử vượt si mê đến với bồ đề – chúng tôi không thích cây Si không phải vì nó si mê hay si tình như người ta bảo mà là trái của nó nhỏ mà rất dơ khi gió lay rụng xuống là loang cả mũ tím ra áo quần khó giặt tẩy!

Chu niên gia đình – hằng năm anh chị cựu huynh trưởng đoàn sinh Chánh Thọ đều hứa hẹn kéo nhau về. Sau 1975 có thời gian tôi bị khổn ách phải rời xa gia đình Chánh Thọ suốt 4 năm, mỗi lần có ai về tôi đều nhờ nhắn với gia đình Chánh Thọ là Lễ Thành Đạo năm đó tôi về, và ngay Lễ Thành Đạo năm thứ 4 tôi về trước 1 tuần lễ kịp để chung lo Chu niên năm 1980 – một lần đó niềm tin về thời gian đã đến với tôi, những lúc bị chướng ngại thử thách trên những bước đời tôi đều phát nguyện sẽ đến cội Bồ Đề Thành Đạo để chiêm ngưỡng khung trời kỳ vĩ của đức Thế Tôn thành đạo chiến thắng ma quân, từ niềm tin đó tôi lần lượt sáng tác những bài hát: Đêm thành đạo, Lửa Dũng, Lửa Dũng 2, Trăng thành Đạo và bài tôi viết cho lễ hội hành hương Thế giới là Pháp Hội Về Nguồn.

Quý anh chị có biết không, mùa đông năm 2004 niềm tin trong tôi đã biến thành hiện thực. tôi và người bạn đời cũng là nữ huynh trưởng áo Lam đã có mặt tại Bồ Đề Đạo Tràng Ấn Độ trong Lễ hội hành hương Gia Đình Phật Tử Việt Nam Trên Thế Giới. 5:30 sáng ngày 7/11/2004 chúng tôi lần đầu tiên cùng hơn trăm huynh trưởng áo Lam từ khắp nơi trên thế giới nhiễu quanh tháp đại giác 3 vòng và chân bước lâng lâng như đang thụ hưởng một ân phúc của đức Phật nhiệm mầu.

Đức Quảng

667 lượt xem