Chiều 20/6/2014 (nhằm 23.5.ÂL) tại Miếu Âm Hồn, ngã tư đường Mai Thúc Loan và đường Lê Thánh Tôn thuộc khu vực Thành Nội Huế, lễ tế âm hồn tưởng nhớ những tướng sĩ trận vong và đồng bào nạn vong trong sự kiện thất thủ Kinh Đô Huế 129 năm trước (1885) đã được tổ chức trang trọng.

Lễ cúng này thường sẽ kéo dài từ 23 đến 30 tháng 5 âm lịch tại các chùa, đình, am, miếu và tư gia người Huế. Hơn 100 năm đã qua, ngày lễ này đã trở thành tập tục thường niên đượm nét nhân văn của người dân xứ Huế. Hình thức cúng âm hồn như một ngày giỗ chung quy mô này có lẽ là đặc biệt nhất trên thế giới. Chẳng nơi nào trên thế giới cúng âm hồn mà quy mô tổ chức lại có tính cách toàn dân trong một thành phố như ở Huế trong ngày lễ này. Đây là một hình thức cúng tế mà đơn vị tổ chức nghi lễ vừa có tính chất đơn lẻ trong từng gia đình, lại vừa có tính chất cộng đồng trong từng đoàn thể, tổ chức, tập thể những người cùng chung một ngành nghề hay cùng ở trong một thôn, xóm, phường.

Trận kinh thành Huế 23 tháng 5 Ất Dậu

Đêm 4/7/1885 (tức 22.5.ÂL), Tôn Thất Thuyết(*) chỉ huy cuộc vũ trang đánh vào quân đội Pháp ở đồn Mang Cá và khu Tòa Khâm bên sông Hương. Nghĩa quân được tuyển trạch từ binh lính triều đình và một số thanh niên trong kinh thành chiến đấu rất gan dạ. Tôn Thất thuyết bố trí cuộc tấn công khá chu đáo nhưng vì quân ít và khí giới kém nên bị thua trận. Hàng chục ngàn quân, dân đã ngã xuống, hiếm có nhà nào không có người hy sinh; Cuộc chống trả bất thành của Tôn Thất Thuyết và quân đội nhà Nguyễn là một bi kịch tang thương trong lịch sử dân tộc.

Ngày 4/7/1885, Tôn Thất Thuyết ra lệnh cho binh sĩ đặt đại bác hướng về phía tòa Khâm Sứ và đồn Mang Cá là hai địa điểm đóng quân của Pháp. Gần tối, Trần Xuân Soạn lần lượt cho đóng hết các cửa thành và đặt thêm súng thần công ở phía trên. Đêm đó, Tôn Thất Thuyết bí mật chia quân ở các dinh vệ làm hai đạo; một đạo giao cho em là Tôn Thất Lệ chỉ huy, nửa đêm dùng đò vượt sông Hương, sang hợp cùng với quân của Đề Đốc Thủy Sư và Hiệp Lý đánh úp Tòa Khâm Sứ. Ngay trong đêm, họ đã phối hợp cùng 5.000 thủy binh của triều đình ở các trại dọc bờ sông để nổ súng tấn công. Pháo binh ở đông nam kinh thành Huế cũng nổ súng yểm trợ cho đội quân này.

Tôn Thất Thuyết cùng Trần Xuân Soạn ở bên này sông, sẽ chỉ huy đánh vào Trấn Bình Đài nhằm tiêu diệt đội quân tiếp viện của Pháp mới từ miền Bắc vào đang trú đóng ở đây. Ông còn cử một toán quân mai phục ở cầu Thanh Long, đề phòng Đại Tá Pernot là người chỉ huy đội quân ở Mang Cá và các sĩ quan thuộc hạ ở Tòa Khâm Sứ về, qua cầu này thì đánh úp ngay. Tôn Thất Thuyết chỉ huy đội quân thứ ba, đóng ở Hậu Bộ phía sau Đại Nội vừa làm nhiệm vụ trợ chiến vừa làm dự bị.

Đêm mùng 4 rạng ngày 5/7/1885, trong khi người Pháp khao thưởng quân đội thì vào lúc một giờ sáng, Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn cho bắn một phát đại bác làm hiệu lệnh để nhất tề tấn công vào Trấn Bình Đài, trong khi đó, bên kia sông, Tôn Thất Lệ chỉ huy quân cũng đồng loạt tấn công vào Tòa Khâm Sứ Pháp. Tiếng đại bác vang động khắp kinh thành.

Quân Pháp bị bất ngờ nhưng vẫn giữ thế thủ để chờ trời sáng. Họ ẩn núp trong trại không chịu ra ngoài trong khi đại bác quân Nguyễn bắn sập mái nhà và lầu Tòa Khâm Sứ. Còn phía đồn Mang Cá thì thậm chí Trần Xuân Soạn đã dùng cả tù nhân được sung binh đi phóng hỏa trại quân Pháp. Quân Nam hò reo và liên tục bắn súng. Nhà cửa trong Tòa khâm sứ cháy tứ tung, khói lửa bốc lên ngùn ngụt, thiêu cháy nhiều trại lính, chuồng ngựa. Quân Nam quyết tràn vào chiếm Tòa Khâm, một toán quân Pháp do trung úy Boucher nổ súng chống cự, ngăn chặn quân Nam tràn vào. Lính Pháp đang ngủ, chợt thức dậy, kẻ bị bắn, kẻ bị chết cháy, số bị thương khá nhiều. Một số sóng sót chạy ra vơ lấy súng ống, mình trần như nhộng, nhiều người không kịp mặc áo. Họ được lệnh tập trung ở một địa điểm xa tầm đạn của quân Nam. Tòa Khâm Sứ và đồn Mang Cá cách xa 2.500m và ngăn cách bởi dòng Sông Hương, vì thế họ không thể cứu viện lẫn nhau.

Khi mặt trời hé mọc, quân Pháp phản công. Họ chở súng lên đài và nóc tàu bắn qua hạ được quân Nguyễn rất nhiều, hoàng thành và cung điện nhiều nơi bị phá hủy. Pháo hạm Javelin bắn dọn đường cho bộ binh Pháp phản công. Dưới sự chỉ huy của Pernot, quân Pháp chia quân làm 3 cánh để tiến vào kinh thành. Họ xung phong từng đợt một, chiếm lĩnh các vị trí cửa chắn then chốt để tràn vào các cửa Đông Ba, Thượng Tứ, Chánh Đông, Chánh Tây, An Hòa… Một toán từ Cửa Trài phá cầu Thanh Long, vượt sông Ngự Hà tiến vào Lục Bộ, cố tấn công cửa Hiển Nhơn để mở đường vào Đại Nội. Toán quân thứ hai vượt Cầu Kho, tấn công quân Nam đang tử thủ ở vườn Thượng Uyển, đồng thời cũng để tiếp ứng cho toán quân đang tìm cách phá vỡ cửa Hiển Nhơn (cửa phía Đông vào Đại Nội).

Bị bất ngờ phản công, ban đầu quân Nam chống cự rất anh dũng. Các vọng lâu được sử dụng làm pháo đài, trên thành, quân Nam bắn xuống xối xả. Quân Pháp đánh vào một pháo đài có chứa thuốc súng, nhưng pháo đài nổ tung bốc cháy, một toán quân Phi và một viên chỉ huy bị chết cháy tại trận.

Về bên phía Tòa Sứ, đoàn quân của Cheroutre cũng tiến sang… Họ cố tràn lên và bị quân Nam nổ súng chặn lại nhưng rồi cuối cùng, quân Pháp cũng tiến được vào thành, cùng lúc đó, quân của Bornes và Sajot cũng vừa tiến vào.

Trước sự phản công của quân Pháp, quân triều đình không giữ được thành, cả hai đạo quân của triều đình ở bên trong và bên ngoài chống không nổi, tan vỡ, tháo chạy về phía Lục Bộ và tràn ra cửa Đông Ba. Tại đây đã họ bị toán quân của Pháp từ phía Cửa Trài tiến lên bao vây. Cuộc giết chóc tàn bạo chưa từng có đã xảy ra: hơn 1.500 người dân và binh lính triều đình đã ngã xuống trong đêm hôm đó vì bị trúng đạn của Pháp, hay một số do chen lấn, giẫm đạp lên nhau khi cố vượt ra khỏi kinh thành. Hầu như không có gia đình nào không có người bị tử nạn trong đêm binh biến này.

Quân Pháp tiến được vào thành, họ hạ cờ triều đình Huế xuống, treo cờ tam tài lên kỳ đài. Sau đó, họ tiếp tục tiến vào Đại Nội, rồi ra sức đốt phá, hãm hiếp, giết chóc, cướp bóc không từ một ai. Một toán quân Pháp đốt trụi trụ sở Bộ Lại, Bộ Binh và các kho thuốc súng. Quân Pháp chia nhau chiếm giữ các kho tàng, cung điện, thu được nhiều vàng bạc và số tiền hơn một triệu quan, là số tiền mà triều đình không kịp mang đi… Trưa hôm đó, họ chia nhau đi đốt hoặc vùi lấp những thi hài của quân và dân Nam chết trong trận đánh.

Nguyễn Văn Tường thấy thế nguy liền vào Đại Nội yêu cầu nhà vua xuất bôn. Hữu quân Hồ Văn Hiển phò giá, đưa hoàng gia ra cửa tây nam. Từ Dũ Thái Hậu ủy Nguyễn Văn Tường ở lại lo việc giảng hòa, Tôn Thất Thuyết chạy kịp theo, tất cả còn chừng trăm người.

Kiểm điểm lại trận đánh tại kinh thành đêm 22 tháng 5 năm Ất Dậu (1885), thất bại hoàn toàn về phía triều đình Huế. Pháp chỉ chết có 16 người, bị thương 80 người, còn quân Nam chết đến 1.200-1.500 người. Quân Pháp khi chiếm được kho vũ khí thu được 812 súng thần công, 16.000 súng hỏa mai, khí giới, lương thực mất đến hàng triệu bạc. Dù đã chuẩn bị khá cẩn thận trong việc tấn công đồn địch, nhưng vì thiếu thông tin liên lạc, nhất là khi phải đánh đột kích trong đêm tối, hơn nữa vũ khí yếu kém, không có sức công phá lớn và không thể bắn được tầm xa nên quân Nam đã thua trận. Quân Pháp chiếm được một số lớn của cải mà triều đình chưa kịp chuyển đi, gồm 2.6 tấn vàng và 30 tấn bạc, trong số này chỉ có một phần rất nhỏ sau này được hoàn lại cho triều đình Huế. Còn lại, số 700.000 lạng bạc phải được 5 lính Pháp đóng hòm trong 5 ngày mới xong và chở về Pháp.

Sáng ngày 23, vua Hàm Nghi rút lui khỏi Huế, xa giá nghỉ ở Trường Thi một lát rồi lên đường đi Quảng Trị. Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở (Quảng Trị); người Pháp treo giải 2.000 lạng bạc cái đầu của ông Thuyết và ai bắt được vua Hàm Nghi thì được thưởng 500 lạng.

Từ Trung ra Bắc, phong trào Cần Vương bắt đầu. Sau biến cố này, mọi việc trong triều do khâm sứ Pháp điều khiển hết. Giữa hôm vua Đồng Khánh bước lên ngai vàng thì Tôn Thất Thuyết tung ra bài hịch Cần Vương. Sau đó hai tháng, người Pháp cách chức Nguyễn Văn Tường đày đi Haiti, lập vua Đồng Khánh lên ngôi ngày 14/9/1885.

Kể từ đó về sau, ngày 23 tháng 5 âm lịch trở thành ngày giỗ lớn hàng năm của người dân Huế. Năm 1894, bộ Lễ đã cho xây về phía trước hoàng thành một cái đàn gọi là Đàn Âm Hồn, đàn có diện tích 1.500m2; gần cửa Quảng Đức, là địa điểm mà Tôn Thất Thuyết đã trực tiếp chỉ huy quân triều đình đánh vào đồn Mang Cá, nhưng nay không còn dấu tích. Quan Đề đốc Hộ Thành được cử đến làm chủ tế hàng năm. Hiện nay, trong khu vực Thành Nội Huế (tại ngã tư Mai Thúc Loan – Lê Thánh Tôn) vẫn còn miếu Âm Hồn để tưởng niệm những người chết trong cơn binh lửa.

23 tháng 5 âm lịch – ngày "hiệp kỵ" đầy tính nhân bản

Ngày 23 tháng 5 âm lịch ở Huế là ngày giỗ lớn, ngày "cúng cơm chung" hằng năm của cả thành phố. Họ cúng cho tất cả những người tử nạn: quân sĩ, dân chúng, quan lại, thợ thuyền chết vì nhiều nguyên do: hoặc bị dày đạp, chen lấn nhau mà chết, hoặc bị trúng đạn Pháp, hoặc bị ngã xuống thành khi tìm cách leo ra khỏi thành, hoặc sa chân rơi xuống hồ ao dày đặc trong thành, nhất là ở hồ Tịnh Tâm trong khoảng từ 2 giờ đến 4 giờ sáng ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu.

Ngày chính cử hành nghi lễ là ngày 23 tháng 5. Nhưng đối với các tư gia thì có thể tùy theo từng gia đình mà tổ chức từ 23 tháng 5 đến 30 tháng 5. Với các tổ chức tập thể và thôn phường trong thành phố, ngày cúng lễ cũng không quy định một cách cứng nhắc, nhưng thông thường ngày chính lễ vẫn là ngày 23 tháng 5. Những lễ cúng âm hồn ngày 23 tháng 5 là do đồng bào tự động kết hợp tổ chức ở các thôn, xóm, phường, xã ở trong tỉnh, các người cùng nghề nghiệp, chung sinh hoạt như tiểu thương các chợ lớn, nhỏ, các Khuôn Hội, chùa chiền, các tổ chức từ thiện… Hầu như toàn thể gia đình và tổ chức tập thể ở Huế đều thành kính cúng âm hồn do xuất phát từ lòng cảm thương những người bị chết trong biến cố một cách bi thương và oan uổng, hồn bơ vơ vất vưởng không có ai cúng cấp, cho nên cúng âm hồn có ý nghĩa cao đẹp là cúng cho "thập loại chúng sinh" chứ không hẳn cúng cho thân nhân trong gia đình mình. Tính nhân bản rộng lớn vả đẹp đẽ là ở chỗ đó.

Từ ngày 23 tháng 5, nếu là một du khách mới đến Huế lần đầu, người ta sẽ ngạc nhiên khi thấy vô số rạp được dựng lên để cúng âm hồn trong thành phố. Nhạc cúng lễ vang động khắp nơi, hương trầm nghi ngút tỏa cả đêm lẫn ngày. Ban đêm. các thời cúng của từng gia đình được đặt trước mặt nhà, hương trầm nghi ngút. Người đứng ra dâng hương thường là gia chủ, quần áo tề chỉnh nghiêm trang, nếu là phụ nữ thì mặc áo dài lam (áo tràng) để tỏ lòng thành kính. Lễ vật cúng ít nhiều tùy gia cảnh nhưng tối thiểu phải có chè, cháo, gạo muối, hoa quả, hương trầm, hột nổ, áo binh, cau trầu rượu. Đặc biệt trong lễ cúng 23 tháng 5 này, từ gia đình cho đến tập thể, thường có một bình lớn nước hoặc thùng nước chè xanh lớn và một đống lửa đốt bên cạnh bàn cúng. Người cúng tin rằng các âm hồn sẽ đến  uống nước và sưởi ấm bên đống lửa vì nhiều người trong biến cố đã chết khát và chết lạnh lẽo dưới ao hồ, sông suối trong đêm rạng ngày 23 tháng 5. Bởi lòng thương người chết vất vưởng dọc đường, dọc sá nên bàn cúng phải đặt trước sân (nếu là người thân và chết ở trong nhà thì mới bày bàn cúng ở bàn thờ). Rõ ràng tập tục cúng âm hồn này thể hiện một tấm lòng nhân hậu bao la của người cư dân xứ Huế. Sau lễ cúng, các thành viên trong gia đình cùng nhau đi phóng sanh, rồi về tập trung cùng ăn bữa cơm thân mật, con cháu trong nhà được cha, ông kể lại những sự kiện, giai thoại truyền miệng về ngày 23 tháng 5 thất thủ kinh thành.

Nghi thức cúng âm hồn trang trọng nhất được tổ chức tại các chùa, đền, am, miếu, trong thành phố Huế. Các địa điểm cúng chủ yếu là ở Thành Nội, tại Miếu Âm Hồn (ngôi miếu lâu năm nhất, ở góc đường Mai Thúc Loan và Lê Thánh Tôn, phường Thuận Lộc hiện nay, cách cửa Đông Ba chừng 300 mét, được xây dựng vào năm 1895 – sau biến cố thất thủ kinh đô 10 năm, trải qua bao cuộc đổi thay nay vẫn còn); tại Đàn Âm Hồn (phường Tây Lộc) và tại nghĩa trang tập thể chùa Ba Đồn (phường An Tây). Thông thường lễ cúng được các thân hào, nhân sĩ cao niên đứng ra nhận lãnh trách nhiệm, kinh phí chủ yếu là từ tiền quyên góp của đồng bào. Tiến trình nghi lễ cúng tại Miếu Âm Hồn hằng năm thường như sau:

– Ngày 22 tháng 5, dựng rạp ngoài trời, trang hoàng khu vực cúng tế ở miếu và bàn cúng lễ ở ngoài trời. Có năm thiết lập đài chiến sĩ trận vong trước miếu.

– Sáng 23 tháng 5, khoảng 7 giờ sáng làm lễ khai kinh, tụng kinh theo nghi thức Phật Giáo.

– Trưa 23 tháng 5, cúng ngọ theo nghi thức Phật Giáo.

– Chiều 23 tháng 5, lúc 14 giờ làm lễ tế cúng âm hồn theo nghi thức tế lễ của Khổng Giáo. Tại đài chiến sĩ trận vong thì làm lễ truy điệu. Những người đảm nhiệm việc cúng lễ y phục chỉnh tề theo cổ truyền. Phường bát âm được mời đến để cử nhạc trong buổi lễ. Buổi lễ kéo dài suốt cả buổi chiều. Phần chính trong buổi lễ là đọc văn tế.

– Tối 23 tháng 5 là lễ đăng đàn chẩn tế do các Tăng sĩ Phật Giáo đảm nhiệm. Chủ lễ là một vị Hòa Thượng tuổi cao đức trọng, đứng dọc hai bên là sáu vị Kinh Sư. Ý nghĩa của lễ đăng đàn này là cầu nguyện cho các hương linh được siêu thoát. Sau cuộc lễ là nghi thức phóng sinh: chim, cá, lươn, ốc, hến v.v… Trong lễ đăng đàn chẩn tế, vị Hòa Thượng chủ lễ thỉnh thoảng lấy tay vốc từng nắm xôi và đồng tiền kẽm đặt sẵn trong một cái khay lớn quăng ra sân. Đám trẻ con – và cả người lớn – chen chúc nhau lượm các đồng tiền trên, lấy đây đeo cổ với quan niệm là để trừ yêu ma quỷ quái.

Sau kỳ lễ tế, vào ngày 12 tháng 6 âm lịch có tục đi chạp mộ tập thể những người tử nạn trong ngày thất thủ kinh đô (địa điểm gần lăng cụ Kinh Tế, trên đường vào chùa Trà Am, gần núi Ngự Bình có hai đám mộ tập thể chôn người tử nạn trong biến cố 23 tháng 5 Ất Dậu) Lúc bấy giờ thi thể những người xấu số được vùi lấp sơ sải, đến khi thu nhặt tử thi trong Thành Nội, người ta nhận thấy khu vực có nhiều tử thi nhất là vùng sát với Miếu Âm Hồn hiện tại. Có lẽ con đường dẫn đến cửa Chính Đông là con đường dân chúng ồ ạt chạy loạn, quân Pháp vào thành cũng theo cửa Chính Đông nên sự sát hại thật thảm khốc. Khi đào mộ cải táng, người ta thấy có mũ mang, bài ngà quan lại lẫn xác ngựa.

Tập tục cúng âm hồn bắt đầu những năm từ sau biến cố, kéo dài cho đến bây giờ, không năm nào gián đoạn, dù hơn trăm năm qua, Huế đã trải qua bao biến cố, chịu bao mất mát đau thương. Tuy nhiên, quy mô và hình thức cúng tế tùy theo từng giai đoạn lịch sử mà có sự chuyển đổi. Dưới thời đại quân chủ, vào ngày tế lễ, bà Từ Cung cho lính gánh lễ vật ra cúng tại miếu. Giờ hành lễ, quan lại các Bộ trong Thành Nội đều đến hành lễ. Sau lễ tế, bài vè "Thất thủ kinh đô" được một nghệ sĩ lão thành kể vài đoạn (khoảng 80 câu, từ câu 391 đến câu 470 – Bài vè hơn 1.000 câu) gợi nhớ lại cảnh hãi hùng chạy loạn năm 1885. Trong những năm sau này, lễ cúng âm hồn còn kết hợp với sự cứu giúp những người nghèo khó đang còn sống (hình thức kết hợp chẩn tế – chẩn bần), Ban Tổ Chức quyên góp tiền mua vải phân phát cho người nghèo, tỏ tình đùm bọc người đồng loại “lá lành đùm lá rách”, thật đầy ý nghĩa nhân văn.

Tập tục cúng âm hồn là một mỹ tục thắm đượm tình nhân đạo, nghĩa đồng bào, đồng chủng, chuyển tải ý nghĩa của một lễ hội dân gian mang màu sắc dân tộc đậm nét, tiêu biểu cho một vùng đất văn vật.

Theo:
– Dư Địa Chí Thừa Thiên – Huế.
– Bách Khoa Từ Điển Wikipedia.

(*) Tôn Thất Thuyết (1839–1913) là quan Phụ Chính Đại Thần của triều Nguyễn. Ông sinh ngày 29 tháng 3 năm Kỷ Hợi, (12/5/1839) nguyên quán làng Phú Mộng, bên bờ sông Bạch Yến cạnh kinh thành Thuận Hóa, nay thuộc thôn Phú Mộng, phường Kim Long, thành phố Huế; con thứ hai của Đề đốc Tôn Thất Đính và bà Văn Thị Thu, cũng là cháu 5 đời của chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần.

Loại trừ những ghi chép cho rằng Tôn Thất Thuyết là viên quan chuyên quyền và việc tổ chức thất bại trận đánh kinh thành năm Ất Dậu (1885) làm nhiều người chết, thì ông là một trong những viên quan nhà Nguyễn chống Pháp tích cực tiêu biểu nhất đã cùng vua Hàm Nghi phát khởi phong trào Cần Vương kháng Pháp trong Việt sử. Từ lúc về Huế tham dự triều chính, đặc biệt là sau ngày vua Tự Đức mất, Tôn Thất Thuyết đã làm hết sức mình để biến triều đình Huế thành trung tâm đầu não của công cuộc kháng Pháp. Song lực yếu thế cô, Tôn Thất Thuyết phải chịu cảnh đắng cay khi vua Hiệp Hòa ký "Hòa ước Quý Mùi" (25/8/1883) và phải chấp nhận xuôi tay khi vua Kiến Phúc ký "Hòa ước Giáp Thân" (6/6/1884). Đến lúc đưa Hàm Nghi lên ngôi (2/8/1884), Tôn Thất Thuyết mới thực sự nắm được triều đình đã mất gần hết quyền lực và ông cố hết sức để đưa nó thoát khỏi những ràng buộc mà người Pháp đang thiết lập. Người Pháp cũng đã công nhận "triều đình An Nam đã biểu dương một thái độ không hèn" và "thái độ ấy do Hội Đồng Phụ Chính đề ra" và Tôn Thất Thuyết trở thành đối tượng cần thanh toán hàng đầu của người Pháp.

QUANG MAI


703 lượt xem