










Hành Trạng
của Trưởng Lão Hòa Thượng
Tăng Giáo Trưởng Thích Huyền Tôn
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính bạch Trưởng Lão Hòa Thượng Tăng Giáo Trưởng,
Hôm nay mùng 4 Tết Bính Thân 2016, Phật lịch 2560, hàng đệ tử Tăng Ni chúng con tại tiểu bang Victoria tề tựu về Lăng Nghiêm Bảo Vương Tự này để hầu thăm, đảnh lễ và mừng khánh tuế đại thọ 89 tuổi đời, 82 đạo lạp và 68 hạ lạp của Ngài. Chúng con cầu Phật từ bi gia hộ cho Hòa Thượng pháp thể khinh an, thọ mạng miên trường, giới hạnh trang nghiêm, huệ đăng thường chiếu để hộ trì Chánh Pháp, phổ độ chúng sanh và dìu dắt hàng đệ tử xuất gia chúng con trên bước đường tu tập và hành đạo.
Nhân dịp này, con xin lược sơ qua một chút hành trạng của Ngài để hàng đệ tử Tăng Ni trẻ tại tiểu bang này biết chút ít về Ngài.
Hòa Thượng Đạo hiệu Thích Huyền Tôn, pháp danh Như Kế, pháp tự Giải Tích, sinh năm Mậu Thìn (1928) tại Quảng Ngãi, Việt Nam. – Xuất gia năm Giáp Tuất (1934)- Thọ Sa Di năm Tân Tỵ (1941)- Thọ Cụ Túc Giới năm Đinh Hợi (1947)- Từng theo học các Phật Học Đường Tây Thiên, Viên Giác vào năm Mậu Tuất (1958)- Tốt nghiệp Cử Nhân Hán Học thuộc Bộ Giáo Dục Quốc Gia VN năm Canh Tý (1960)- Giáo Sư Phật học tại các Phật học đường Bảo Lâm (Mỹ Khê, Quảng Ngãi), Phật học đường Kim Liên (Tịnh Giang, Quảng Ngãi); Phật học đường Quang Minh (Sài Gòn). – Giáo Sư Việt văn Trường Trung Học Bồ Đề, Sài Gòn.- Quyền Chánh Đại Diện Phật Giáo Tỉnh Gia Định (1967-1972)- Định cư tại thành phố Melbourne, Úc Đại Lợi từ năm Canh Thân (1980), sáng lập và trụ trì Chùa Bảo Vương cho đến nay.- Ngài là sáng lập viên Giáo Hội Phật Giáo VNTN tại Victoria, năm Tân Dậu (1981)- tiếp đó, Ngài cùng chư Tôn Đức thành lập Giáo Hội Phật Giáo VNTN Úc Châu – Tân Tây Lan, năm Giáp Tý (1983)- Chủ Bút tờ báo Phật Giáo VN Úc Châu từ 1984 đến 1989- Phó Viện Trưởng Viện Hoằng Đạo (1983-1992) – Hiện là Tăng Giáo Trưởng Hội Đồng Giáo Phẩm thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại UĐL-TTL từ 1999 đến nay.
Trong thời gian phụ trách giảng dạy môn Việt văn các Trường Trung Học Bồ Đề, Sài Gòn, HT đã dành nhiều thời gian để viết truyện, viết báo đăng trên các tờ báo tại Sàigòn: Báo Trắng Đen, Báo Tin Sớm, Báo Tiền Tuyến, Báo Thông Tin, Đặc San Hoằng Pháp của Viện Hóa Đạo v.v… qua bút hiệu Hạo Gia và Lĩnh Nam.
Định cư tại Úc Châu năm 1980 sau chuyến vượt biên gian khổ, HT đã dành thời gian để nghiên cứu và viết bộ sách "5000 năm Việt Lịch", một tài liệu có một không hai trên văn đàn Việt Nam, HT là người thích lịch sử, đặc biệt là thích ghi chú và gìn giữ tư liệu về lịch sử Việt, trong đó Ngài cố gắng cổ võ cho người Việt nên sử dụng và duy trì Việt lịch để con rồng cháu tiên VN biết rõ cũng như tự hào về gốc rễ của mình. Ví dụ năm nay Tây lịch 2016 thì phải biết rõ Việt lịch của chúng ta là 4895. Trong bộ sách đồ sộ và chi tiết này của HT ghi chép và đối chiếu chiều dọc và chiều ngang của chiều dài lịch sử VN từ thời Vân Lang, Âu Lạc, Hồng Bàng, cho đến thời Hùng Vương, Bà Trưng, Ngô Quyền, rồi Đinh, Lê, Lý Trần… ví dụ:
Năm thứ nhất Việt Lịch là đời Vua Kinh Dương Vương, năm Giáp Tuất, trước Phật ra đời là 2255 năm, từ đó HT tính đến năm 5000 (Việt lịch) năm đó là 2121 (Tây lịch), Tân Tỵ, Phật đản sẽ là 2745, Phật lịch là 2665.
Đây là bộ lịch 5000 năm của lịch sử Việt Nam cũng là của PG thế giới, ai có duyên đọc được sẽ lầu thông hết mọi chi tiết lịch của mọi thời đại một cách chính xác, chẳng hạn:
– Đức Phật đản sinh năm 624 trước TL thì Việt Lịch là 2256, âm lịch: Đinh Dậu, thời vua Hùng Vương tại VN, và thời Vua Tương Dương nhà Châu 28 bên Tàu.
– Đức Phật nhập Niết Bàn năm 80 tuổi, là 544 trước TL, âm lịch: Bính Thìn, Việt lịch 2335, năm đó Lão Tử 27 tuổi, Đức Không Tử mới lên 6 tuổi, đang là thời Vua Linh Dương nhà Chu thứ 27,
– Sau 16 năm dài gian khổ thỉnh kinh tại Ấn Độ Pháp Sư Huyền Trang trở về Trường An là năm Lục Tổ Huệ Năng lên 8 tuổi, đó là năm 645, Việt lịch 3524, âm lịch: Ất Tỵ.
Bản thân riêng con là người nghiên cứu và viết về Phật Giáo Thế Giới (xem sách), con rất cảm động và vui sướng khi đọc được những thông tin này, vì con biết HT phải mất nhiều thời gian để thức khuy dậy sớm, tim kiem tai lieu, doc, tra cứu chi tiết từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau để đúc kết thành dữ kiện lịch sử như thế. Quả thật đây là một tài liệu vô giá, sẽ giúp cho người đời sau rất nhiều, khi cần là có ngay, không mất công lật từ điển hoac hang chuc tap sach để tra cứu nữa, quả thật công đức đóng góp vào nền văn hóa Phật Giáo VN của HT không thể nghĩ bàn được.
Các bản Kinh mà Đức Tăng Giáo Trưởng đã truyền đạt cho đời gồm có:
- Chư Kinh Mật Giáo. HT.Thích Huyền Tôn dịch
– Kinh Vu Lan Bồn. HT Thích Huyền Tôn dịch
- Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân. HT.Thích Huyền Tôn dịch
– Kinh Hiền Kiếp Thiên Phật Danh. HT.Thích Huyền Tôn dịch
– Kinh Bát Đại Nhơn Giác. HT.Thích Huyền Tôn dịch
- 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Phật. HT.Thích Huyền Tôn dịch
– Phương Pháp cứu độ Trung Ấm Thân . HT.Thích Huyền Tôn
– Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi. HT Thích Huyền Tôn dịch (xin mời xem tác phẩm của HT)
Đặc biệt tác phẩm " Du Già Diệm Khẩu Thí Thực Khoa Nghi", ấn hành đầu tiên năm 2007, có thể nói đây là bản Việt dịch đầu tiên đầy đủ về khoa chẩn tế thí thực cô hồn, và cũng là một bản dịch để đời của HT Tăng Giáo Trưởng, vì văn phong của bản kinh đã trác tuyệt, mà bút pháp của Hòa Thượng còn cực kỳ điêu luyện, đã làm cho người đọc không còn có cảm giác đây là bản dịch từ tiếng nước ngoài. Ví dụ như đoạn văn tán sau 12 câu thỉnh: "Tự tùng khoáng kiếp, trực chí kim sanh, thích nghiệp chướng dĩ tiêu dung, tuyết tội khiên nhi thanh tịnh ; hoạch thang dõng phất, biến thành bát đức chi liên trì, lô diệm giao huy, hóa tác thất trân chi hương cái. Kiếm thọ giai vi ngọc thọ, đao sơn tận tác bảo sơn, biến giới thiết sàng, hiện bồ đề chi pháp tọa ; mãn phủ đồng trấp, hóa cam lồ chi đề hồ, vãng tích trái chủ chi tương phùng, câu mong giải thoát. Tích kiếp oan gia chi cọng hội, ngục chúa hưng từ, minh quang trì thiện."
HT dịch giả đã chuyển ngữ một cách tài tình như sau: "Kính nguyện từ kiếp xa xưa, thẳng đến ngày nay, xả nghiệp chướng để thong dong, rửa tội khiên nên thanh tịnh. Nước đồng sôi nóng, biến thành "tám đức" mát ao sen. Lửa lò nung nấu, hóa nên lộng thơm bảy báu. Rừng kiếm núi đao, đã biến thành " bảo sơn, rừng ngọc". Giường sắt khắp nơi, bỗng hóa hiện " Bồ đề pháp tọa", nước đồng sôi tung rải khắp nơi, hóa nên "sửa đề hồ" ngon ngọt". Bao kiếp trái oan lại tương phùng, cùng nhau giải thoát, kết khối oan gia giờ gặp gỡ thỏa niệm tiêu diêu. Ngục chùa lành thương, Cõi U quan làm thiện".
Quả thật qua bút pháp điêu luyện của HT, người đọc không nghĩ đây là 1 bản dịch nữa, mà đó là áng văn toát ra từ tâm đức và tim óc của Ngài, vốn là một vị Thầy Đàn Chủ Đàn Ngoại của các đại lễ chẩn tế bạt độ âm linh Cô Hồn. Tri hành dung thông và hiệp nhất ở trong cửa Phật chính là ở đây, không thể nào sai đi được.
HT Tăng Giáo Trưởng còn nổi tiếng là người trực tánh, nói thẳng, nhất là việc phá tà hiển chánh, những điều trái ý nghịch lòng HT ít khi giấu kín trong lòng. Một lần nọ, HT đến dự hội thảo về Giáo Dục tại Victoria Uni do GS Phan Văn Giưỡng mời, trong hội nghị trường có trên 20 Giáo Sư Đại Học khắp thế giới, một bà giáo sư đến từ Anh Quốc đứng lên chỉ trích giáo lý Bát Chánh Đạo của Phật Giáo, ý nói rằng Giáo lý này có gì hay ho đâu mà mỗi lần đến hội nghị cứ nghe các đại diện PG cứ nhắc đi nhắc lại hoài, thật là nhàm chán. HT Tăng Giáo Trưởng không dằn lòng được sự chỉ trích vô minh này, Ngài đã đứng lên hỏi ngay " thưa GS, GS làm nghề gì ? tôi dạy học " , " học trò của GS có hiểu bài GP giảng không ? có, vậy GS có đi ăn trộm không ? bà GS há hốc mồm khi nghe câu hỏi chói lỗ tai này. Nhưng HT đã chúc mừng bà GS đã sống theo giáo lý chánh nghiệp, chánh mạng, chánh ngữ, chánh tư duy của Bát Chánh Đạo rồi mà không hề biết, cả hội trường đều vỗ tay tán thán HT và bà GS sau đó đã đến xin lỗi sám hối HT về bài học nhớ đời này.
Trên mặt trân thơ ca, HT đã dùng ngòi bút của mình để kêu gọi thế giới trả lời công bằng và công lý cho nhà bác học Galileo, đã bị tòa thánh Vatican bỏ tù oan uổng vì ông dám nói ngược lại Kinh Thánh về sự thật của vũ trụ, HT đã viết:
Tưởng niệm tình ông thật bao la.
Địa-cầu tinh tú cõi hằng sa,
Viễn vọng ông nhìn trông tận mặt,
Ngu hèn chúng chỉ thấy quanh da !
Chúng gieo thiển-cận đầy u-ám !
Ông trải văn-minh khắp hải-hà.
Siêu nhân thánh chúa sao mà thế ?
Trái đất hình " vuông " ôi xót xa.
GALILEO hởi nhà Bác học,
Mười một năm trong chốn lao lung!
Trái đất hình tròn ông khám phá,
Nhân loại nhờ ông hiểu tận cùng.
Mắt ông mù nhưng ông không khóc!
Bọn ngu si che dấu lớp hành tung.
Dùng bạo lực bắt giam ông vào ngục,
Chúng xưng thần nhưng thật quá cuồng ngông.
Vì muốn chấn chính tệ nạn trong Chánh Pháp, HT đã viết các bài:
- Pháp hành trong thời mạt Pháp
- Nhà cầm quyền Taliban phải chăng họ đã phá Phật ?
Trong lời đạo từ lễ khai mạc Đại Hội Phật Giáo Úc Châu kỳ 5 tại TV Quảng Đức, HT Tăng Giáo Trưởng đã tâm sự: “Bản thân tôi đã già yếu, nên xin lấy tư cách Người Trưởng Lão thưa gởi nhắn nhủ đôi lời đến với lớp Tăng Ni trẻ rằng: Là Tỳ kheo, đối với thời nay dù là mạt pháp, trong tâm niệm chấn hưng các vị hãy coi đó là Tượng Pháp! Trong Tứ-gia-hạnh, Tỳ kheo phải xa 10 chỗ ác nạn như: Giàu có, Thế lực, tà pháp, ố nữ, ác đảng, … tất cả các đối trần bất thiện Tỳ Kheo đều nên xa lánh. Hoằng Pháp thời nay, gian nan hơn trước nhiều! Cầu mong Tứ chúng Nội Tu, Ngoại độ sáng suốt, tế nhị, kiệm khẩu hạnh, luôn Từ bi thị chúng sanh. Đối với các vị Tăng Ni còn trẻ mà rời quên Bố Tát, là giảm suy giới thể, mất đức “Chánh Hạnh” làm sao viên mãn được “Gia vụ và lợi sanh”. Mong sao Tập, Khổ chóng viễn ly. Đạo, Diệt sớm nên thành tựu". Thật vậy, từ năm 2012, chính HT và TT Tâm Phương là người đứng ra gầy dựng lễ Bố Tát định kỳ mỗi tháng để hàng Tăng Ni tại tiểu bang Victoria có cơ hội gặp gỡ nhau để ôn tụng giới pháp, chia sẽ công tác Phật sự chung cũng như nương tựa tu học với nhau trong tình pháp lữ Linh Sơn cốt nhục, bản thân của HT tuy đã cao tuổi hạt nhưng Ngài luôn hiện diện trong các kỳ Bố Tát, cho dù buổi sáng trời mùa đông lạnh giá khắt nghiệt của Melbourne.
HT Tăng Giáo Trưởng cũng là một nhà thơ lừng danh trên thi đàn của Phật Giáo, lưu lại cho đời nhiều áng thơ bất hủ như bài "Tuổi tức từ", "Mấy khúc thơ lòng", " Nhớ Mẹ ", "Phật vào cõi thế", " Mừng Phật giáng trần", đặc biệt bài "Có có không không" đào sâu vào lý mầu của Bát Nhã Tánh Không, HT viết:
"Chớ vương vào có, mơ có có !
Học đạo không không, phải thật không
Có có mà chi đeo với có !
Đã không, thì chớ cột vào không.
Luân hồi sanh tử, ôi có có !
Bỏ hết trần lao, lặng lẽ không.
Có không, có có, không không có.
Bạn đã thấy gì, lẽ có không ?
Cái có chơn thường, là có có
Cái không không thiệt, lại không không.
Tất cả đều không, không thật có;
Hiểu rồi, thật có với thật không.
Không như sừng thỏ, là không có !
Có tợ chiêm bao, ấy có không !
Chẳng chấp vào không, chấp vào có,
Thong dong tự tại kể gì "Có Không".
Bài này đã được nhạc sĩ Võ Tá Hân phổ nhạc để phổ biến rộng rãi.
Về văn xuôi HT đã viết các bài:
– Cảm Niệm Mừng Phật Thích Ca Giáng Trần. HT.Thích Huyền Tôn
– Ý Nghĩa Ngày Thành Đạo. HT.Thích Huyền Tôn
– Công Hạnh của Bồ Tát Quán Âm. HT.Thích Huyền Tôn
Về Truyện ngắn, HT đã viết:
– Mùa thương.
- Thức tỉnh.
– Cực tịnh sanh động.
- Câu chuyện thuở xưa của hai Ngài Hàn Sơn và Thập Đắc.
– Chín Ba kiếp Rồi Mới Gặp Con
– Tế Thuyền
Hòa Thượng Tăng Giáo Trưởng là người vui tánh, trong các thời thuyết giảng, hay ban đạo từ vào các Đại lễ, bất cứ khi nào Ngài cầm micro thì thế nào đại chúng cũng có dịp cười òa vui thích khi nghe lời giáo từ của Ngài vừa nhẹ nhàng, ý nhị, hài hước nhưng rất sâu lắng. HT là một bậc Cao Tăng Thạc Đức, Ngài lúc nào cũng hiện thân của "Hữu oai khả úy và hữu nghi khả kính". Ngài ứng thân tế độ chúng sanh như lời của chư Tổ Đức , " Ngoại hiện tượng vương chi oai , Nội hàm sư tử chi đức". Ngài tuy là bậc lãnh đạo tối cao của Giáo Hội nhưng chưa bao giờ có sự ngăn cách với lớp Tăng Ni trẻ, ai cần điều gì, thắc mắc những gì, HT đều từ bi hoan hỷ giải đáp tận tường. Ai ai cũng cảm nhận được sự mát mẻ và từ ái toát ra từ tấm lòng ấm áp của Ngài khi có dịp thân cận học hỏi từ Ngài.
Xuân Bính Thân 2016 cũng là năm Đức Ngài bước sang tuổi đại thọ 89, chúng con xin mượn lời thơ chúc mừng đại thọ 89 tuổi của HT Giác Lượng (80 tuổi) gởi từ California, Hoa Kỳ như lời chúc mừng khánh tuế đến với HT Tăng Giáo Trưởng:
Kính cảm đức, bậc Lão Tăng Trưởng Thượng,
Chúc Ngài thường an lạc mãi trăm năm,
Mừng tôn vinh, Đạo nghiệp sáng trăng rằm,
Đại đức trọng, gương giữa đời phàm trược.
Thọ thế, giữa thời đại nầy khó được,
Trưởng dưỡng nguồn Đạo học, trắc nan hơn,
Lão luyện tâm, chí cả, bởi không sờn,
Hòa chân phước truyền ban trong xã hội.
Thượng tích lũy công năng, từ tâm nội,
Thích luyện tầm khí lượng Phật uyên thâm,
Huyền nhiệm cơ, Pháp giáo Phật truy tầm,
Tôn trưởng Đạo, đà trưởng duyên phụng Đạo.
Một là lẽ, Duy Nhân, mình tích tạo,
Bậc hiền minh, từ thuở tuổi ấu niên,
Xuất gia thời còn bé, tánh tự nhiên,
Trần bất nhiễm, trường đời nào ô nhiễm.
Đại phước đức, tiền căn, cơ mầu nhiệm,
Sĩ thực hành Chánh giáo Đức Như Lai,
Đã vo tròn sự nghiệp: “Cứu nhân loài
Hy hữu thật, một kiếp người thành đạt”.
Hiến tất cả, từ tâm nguồn chân thật,
Trọn tấm lòng, nghĩa cử “Đấng Trung Tôn”
Đời nhân sinh, noi gương sáng trường tồn,
Tu dưỡng tánh, để đạt thành chánh quả.
Học Phật Pháp, như Ngài Huyền, cao cả,
Phụng cho mình, tròn quả Đạo cho mình,
Sự hành trì cuộc sống Đạo nghiêm minh,
Phật hiển chứng, Đạo thành đời hiện tại.
Pháp Giáo Phật, truyền thừa bao thời đại,
Phổ hóa đời, mang lại sự hòa bình,
Độ nhân loài, độ khắp cả chúng sinh,
Chúng sự sống, cõi Ta bà hồng trược.
Sanh hiện kiếp, Ngài Huyền Tôn đã được.
Công tu hành, xứng đáng bậc tu hành,
Năng lực đầy, huệ nghiệp trọn nên danh,
Hoằng tứ chúng, khắp nhân sanh: “Khâm Thán.”
Hóa duyên đã như nguyền, đời hữu hãn,
Thật còn gì hơn nữa kiếp “Tăng Nhân”
Vô vàn, dòng Thích Tử, giữa cõi trần,
Lượng cao cả, chí hy sinh độ chúng.
Vô thượng phước, “Ngài Huyền Tôn” tích phước,
Biên giới nào, phân định, xẻ chia nhau,
Xứng thật là Bậc Trưởng Thượng dẫn đầu,
Danh nêu sáng, gương Ngài trong Tứ chúng.
Trưởng Đại chúng, thời đại nầy quả đúng,
Tử thừa hành sứ mạng “Tác Như Lai .”
Như Như còn, là sự nghiệp ngày mai,
Lai Lai đáo, thuận: “Ta Bà Hóa Độ.”…
Lời cuối chúng con kính chúc HT Tăng Giáo Trưởng: Thọ mạng bách niên, pháp lạc vô biên và pháp duyên vô ngại.
Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát tác đại chứng minh.
Thích Nguyên Tạng
Viết nhanh sáng sớm mùng 4 Tết Bính Thân 2016
922 lượt xem
Tin khác
“VIỆT NAM, VIỆT NAM” là một chung khúc – theo cách gọi của Cố nhạc sỹ Phạm Duy – kết thúc bản Trường Ca “Mẹ Việt Nam” do ông khởi…
TÓC PHẬT TỪ PHẬT SỞ HÀNH TÁN (BUDDHACARITA) ĐẾN 8 SỢI TÓC ĐỨC PHẬT BAN TẶNG THƯƠNG NHÂN TAPUSSA VÀ BHALLIKA oOo DẪN NHẬP Trong Phật Sở Hành Tán (Buddhacarita),…
Trong các phong tục cổ truyền của dân tộc Việt trong dịp Tết Nguyên Đán, câu thành ngữ “mồng một tết Cha, mồng hai tết Mẹ, mồng ba tết Thầy”…
Với lịch sử của một dân tộc triền miên chìm trong đao binh chiến trận như đất nước Việt Nam khốn khó, hết khởi nghĩa chống ngoại xâm qua các…
Những cơn mưa sụt sùi đã chấm dứt, những trận bão giông quằn quật rồi cũng qua đi, những dòng nước xả hồ cuồn cuộn cũng đã vơi. Bầu trời…