Bức ảnh (dưới bài này – BBT) do nhà thơ Tâm Nhiên tặng hôm qua khi anh ghé thăm chùa Viên Giác, Hội An, nơi tôi sống năm năm khi còn nhỏ.

Khoảng đất dưới gốc đa, nơi mỗi sáng tôi quét lá vẫn còn nguyên vẹn.

Bờ tường vôi và cổng chùa được sơn lại nhưng vẫn được giữ nguyên lối kiến trúc ngày xưa. Bây giờ nhìn thấy hẹp nhưng năm 1969, dù cùng kích thước, khoảng đất dường như rộng hơn nhiều nhất là những sáng mùa thu lá rụng đầy.

Mới đó mà đã bốn mươi chín năm rồi. Bốn mươi chín năm mà như mới hôm qua. Cậu bé trong tâm hồn tôi cũng chẳng lớn hơn chút nào từ những mùa thu cũ.

Ngày đó, năm giờ sáng, khi phần đông người trong chùa còn ngủ, cậu bé thức dậy bắt đầu công việc mỗi ngày của mình. Cậu bé phải quét lá sớm để bảy giờ thì đi bộ đến trường. Nhiều khi vừa quét xong nhìn lại phía đầu sân bên kia, lá rơi đầy như trước, lại phải quét thêm lần nữa.

Bên trong khoảng đất có một thềm tráng xi măng bên ngoài văn phòng Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Tử Quảng Nam. Khi quét lá xong, trời còn sớm tôi thường ngồi đó học bài.

Nhìn những chiếc lá đang nhẹ nhàng rơi xuống, tôi thường nghĩ về mình và những đứa bé cùng cảnh ngộ đang sống lây lất trên đường phố, ngủ trên những chiếc sạp bên ngoài rạp hát Trưng Vương hay trong chợ Cồn. Số phận của chúng giống như tôi cũng mang nỗi cô đơn sâu thẳm và mong manh như những chiếc lá đang rơi.

Nhiều khi ngồi nhớ lại mình và những đứa bé bất hạnh thời chiến tranh, tôi tự hỏi, những chiếc lá vàng trên hè phố Đà Nẵng, trên bến xe đò Nam Lộc, trong hố rác Hòa Cầm ngày xưa đã bay về đâu.

So với họ, tôi là đứa bé may mắn vì có một nơi để dừng chân. Nếu không có chùa Viên Giác, không có tiếng chuông chùa nhẹ đưa, không có lời kinh khuya ru tuổi thơ nhiều mất mát, cuộc đời tôi, như hàng triệu chiếc lá chiến tranh khác lang thang khắp ba miền đất nước, không biết đã ra sao.

Cám ơn Đức Phật và những lời dạy của ngài. Tình thương, bao dung và tha thứ là những giọt nước mát rót vào tâm hồn cháy bỏng của tôi thời thơ ấu.

Năm năm sau, vào một buổi sáng mùa thu tôi lạy Phật ra đi. Lá chưa rơi nhiều nhưng tiếng xào xạc hòa trong cơn gió lớn như cùng tấu lên khúc nhạc tiễn đưa.

Tạm biệt chiếc đại hồng chung và những tiếng ngân dài, tạm biệt chiếc giường gỗ và bầy rệp đỏ, tạm biệt chiếc mùng ngăn muỗi nhiều chỗ vá. Không giọt nước mắt nào nhỏ xuống trong giờ tôi đi. Tôi tự tay mở cánh cửa chùa và ra đi âm thầm như ngày mới đến. Mười hai năm sau khi đến Mỹ, tôi viết bài thơ này.

NHỚ CÂY ÐA CHÙA VIÊN GIÁC

Tôi chưa kịp trở về thăm Viên Giác
Mười hai năm bèo dạt bến sông đời
Cây đa cũ chắc đã già hơn trước
Biết có còn rụng lá xuống sân tôi

Ðời lưu lạc tôi đi hoài không nghỉ
Ðể niềm đau chảy suốt những mùa thu
Thời thơ ấu cây đa già tri kỷ
Vẫn còn đây trong ký ức xa mù

Tôi khổ cực từ khi cha mất sớm
Nên bà con, thân thuộc cũng xa dần
Khi tôi khóc, đa đau từng cuống lá
Khi tôi cười, xào xạc tiếng quen thân

Ða làm mẹ vỗ về tôi giấc ngủ
Ða làm cha che mát những trưa hè
Ða làm bạn quây quần khi rảnh rỗi
Ða làm người chơn thật chẳng khen chê

Mỗi buổi sáng tôi một mình ôm chổi
Quét lá vàng như quét nỗi cô đơn
Lá vẫn rụng khi mỗi mùa thu tới
Như đời tôi tiếp nối chuyện đau buồn

Chùa thanh tịnh chẳng dung hồn lữ thứ
Một chiều thu tôi lạy Phật ra đi
Bỏ lại tiếng chuông chùa vang khuya sớm
Cây đa già đứng lặng khóc chia ly

Ðường tôi qua đã không còn bóng mát
Ngày nhọc nhằn mưa lũ xuống đêm khuya
Ða ở lại âm thầm ru khúc hát
Ngậm ngùi buông theo mỗi tiếng chuông chiều

Ða thân mến dẫu có vàng thương nhớ
Cũng xin đừng gục xuống dưới sân tôi
Xin cố đứng để chờ nghe tôi kể
Chuyện trầm luân của một kiếp con người

Tôi sẽ đến ngôi chùa xưa Viên Giác
Nhặt mảnh đời rơi rớt ở đâu đây
Ôi thằng bé nghèo nàn xưa đã lớn
Ði làm người du thực ở phương tây

Tôi viết nốt những bài thơ dang dở
Vá tình người rách nát thuở hoa niên
Ða sẽ hát bài đồng dao muôn thuở
Nhạc thu buồn nước mắt chảy trong đêm.

TRẦN TRUNG ĐẠO (copy từ FB HTr Trần Trung Đạo).

Bức ảnh do nhà thơ Tâm Nhiên tặng hôm qua khi anh ghé thăm chùa Viên Giác, Hội An, nơi tôi sống năm năm khi còn nhỏ.

 

274 lượt xem