Chuyện đời áo Lam (1)
Nguyện lực Quán Thế Âm

Kính thưa quý anh chị,
cùng các em thân mến.

Chúng ta thường nghe đến địa danh Phổ Đà, Phổ Đà Sơn – Chính là Phổ Đà Sơn thuộc tỉnh Chiết Giang miền Nam Trung Quốc, kinh đô của Tây Tạng có tên là Phổ Đà Lạc Ca hay Lhassa là vì người ta tin rằng đức Đạt Lai Lạt Ma là một trong những hóa thân của Quán Thế Âm bồ tát. Hơn 25 thế kỷ trước khi đức Thích Ca thuyết Phát tại Ấn Độ, lúc giới thiệu về sự xuất hiện của Bồ tát Quán Âm Pháp vương tử, Ngài có nói Quán Thế Âm từ phía Nam của Nam Diêm Phù đề đến. Ngày xưa địa lý hiểm trở thậm chí người cổ đại còn không biết có xứ Trung Hoa là gì hay ở đâu, nhưng đức Phật biết Quán Thế Âm từ phương Nam đến. Như vậy đạo tràng của Ngài Quan Âm đã hiện diện nơi Phổ Đà Sơn Trung Quốc rất lâu rồi.

Quán Thế Âm Bồ tát có đầy đủ 3 tên: Pháp danh là Quán Tự Tại; Pháp hiệu là Nhĩ căn Viên Thông, và Pháp tự là Quán thế Âm, đến đời nhà Đường kỵ chữ Lý Thế Dân của nhà vua nên mới bỏ bớt chữ Thế đi, đọc gọn là Quan Âm. Thường, các đức Phật đã vào nhập diệt thời sắc tướng viên tịch, Quán Thế Âm tuy đã thành Đạo từ lâu nhưng vẫn còn hóa hiện nơi chúng sinh bởi do lời đại nguyện: Ngày nào thế gian này còn âm thanh đau khổ thời ngày đó còn Quán thế Âm cứu khổ, cứu nạn.

Vũ trụ quan của thế giới Phật giáo chỉ bao gồm trong 18 giới: 6 giới của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với 6 giới của sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp trần ra 6 thức cộng chung là 18 – chúng ta vốn không ai vượt qua được 18 giới này nên dính mắc phiền não khổ đau đến 108, như Tề thiên đại thánh có thể sử dụng Cân Đấu vân nhảy một cái xa đến 1 muôn 8 ngàn dặm nhưng cũng không vượt qua được 18 giới này. Chỉ có chư Phật mới vượt qua được nhưng rồi nhập đại diệt độ, còn Quán Thế Âm bồ tát chưa vào đại diệt độ bởi lời đại nguyện cứu khổ nhân gian còn đó, cho nên Ngài vượt qua được 18 giới kia mà thành số 19. Ngày 19 tháng 2; 19 tháng 6; 19 tháng 9 đều là ngày Vía Quán Thế Âm, chính là ý nghĩa này. Nên khi lần chuỗi hạt, chư thầy tổ không cho Phật tử lần vượt qua viên mẫu châu (hạt chuỗi lớn) số 18 hay 108, Phật tử lần tới đây phải quay chuỗi trở lại để cảnh tỉnh mình nhiếp niệm không thể vượt qua 18 giới kia.

Hôm tu Bát Quan Trai giới có anh chị đã thắc mắc sau khi nghe Pháp thoại, chúng ta giàu nghèo sang hèn, thành bại…. là do nghiệp lực chứ không phải do mong cầu, cầu nguyện mà được, như vậy tại sao đức Phật lại khuyên chúng ta niệm Quán Thế Âm khi bị khổ nạn và thầy tổ chúng ta thường tụng kinh Phổ môn để cầu An? Nghiệp lực đã quyết định mọi sự, và luôn đúng nhưng không phải là tất cả. Ví như có ông trưởng giả giàu có được mùa phát nguyện bố thí cơm áo cho chúng sinh nên chú chim Oanh Vũ mới bớt nhọc nhằn bay xa tìm thóc lúa; ví như chúng ta khi khốn khó được người bạn hiền hay hàng xóm giúp đỡ cũng do nhân duyên cùng sự phát tâm.

Cũng vậy, hạnh nguyện của đức Địa Tạng Vương là cứu khổ nơi địa ngục thì hạnh nguyện của Quán Thế Âm là cứu khổ nhân gian – Ngày nào Địa ngục còn thì còn Địa Tạng vương cứu độ; ngày nào nhân gian còn gào thét khổ sở khẩn thiết kêu xin thì ngày đó thế gian này sẽ còn vô số Quán Thế Âm ngàn tay ngàn mắt cứu khổ ban vui.

Khi lòng chúng ta sợ hãi, mất tự tin, tự chủ có thể làm liều, có thể dồn tâm trạng ta vào chỗ bế tắc thì chúng ta phải bình tâm khẩn niệm Quán Thế Âm. Đầu tiên nhờ sức niệm nhất tâm sẽ đẩy lùi được tâm hồn si ám đang bị hôn mê vì sợ mất danh dự, sợ người ta đánh đập, chưởi bới, giết hại, làm nhục, giam cầm…., kế đến là sức đại từ bi của hạnh nguyện Quán Thế Âm sẽ chuyển hóa bất cứ ứng thân nào gần nhất để giúp đỡ, an ủi, làm vơi nhẹ hình pháp… cho ta vượt qua khổ nàn. Tín tâm càng lớn sức hóa giải càng mạnh. Nhưng phải nhớ Tín tâm là lòng tin chân thật không nghi ngại; là sống thật lòng không gian dối thì mới phát ra Tín lực, rồi sẽ “duyên” được với nguyện lực Quán Thế Âm.

Đức Quảng

574 lượt xem