TIỂU SỬ

TỔ THẬP THÁP – HÒA THƯỢNG THÍCH PHƯỚC HUỆ
(1869 – 1945)

Hòa Thượng thế danh là Nguyễn Tấn Giao, sinh năm Canh Ngọ (1870) tại làng Phú Thành, phủ An Nhơn, nay là ấp Phú Thành, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Nguyên quán thôn Bình Thành, tổng Xuân An, huyện Phù Cát. Thân phụ là cụ Nguyễn Chánh Niệm, tự Hòa Bình, thân mẫu là cụ Nguyễn Thị Lãnh, pháp danh Chơn Hóa, ông bà đều là những Phật Tử thuần thành.

Năm 13 tuổi (1881), Ngài được cha mẹ cho phép xuất gia tại chùa Thập Tháp, thọ giới với Hòa Thượng Chí Tịnh hiệu Minh Lý, pháp danh Ngộ Thiệu, trụ trì Tổ Đình Thập Tháp, được ban pháp hiệu là Phước Huệ. Năm 14 tuổi, Ngài được Bổn Sư cho tới chùa Tịnh Lâm ở huyện Phù Cát, Bình Định theo học với Tổ Pháp Hỷ, trụ trì chùa Từ Quang (Đá Trắng), tỉnh Phú Yên và sau đó thọ Sa-di giới. Năm 19 tuổi, Ngài trở về giữ chức Thủ Khố của Tổ Đình Thập Tháp. Năm 20 tuổi, Ngài lại vào chùa Từ Quang ở Đá Trắng, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên theo học với Hòa Thượng Luật Truyền (Pháp Chuyên). Ngài thọ đại giới năm 1889 tại giới đàn ở Tổ Đình Long Khánh, Quy Nhơn, Bình Định và đắc pháp năm 1892 với Hòa Thượng Luật Truyền.

Khi Bổn Sư viên tịch, Ngài trở về Tổ Đình Thập Tháp thọ tang rồi ở lại tham học cùng sư huynh là Tăng Cang Vạn Thành vừa mới được suy cử tân trụ trì tổ đình này.

Sau mười năm chuyên tâm tu học, phát huy đạo tâm và trí tuệ sẵn có, Ngài đã bác thông kinh luận Tam Tạng giáo điển, lại thông suốt cả Bách Gia Chư Tử, và có khả năng giáo hóa nhuần nhuyễn, đạo vị vào bậc nhất thời bấy giờ, nên người đương thời tặng Ngài mỹ hiệu “Phật Pháp Thiên Lý Câu” (Con ngựa tinh thông Phật Pháp chạy được ngàn dặm).

Năm 26 tuổi (1894), Ngài được cử là trụ trì chùa Phổ Quang ở huyện Tuy Phước, nay ở xã Phướng Thuận. Chùa này là ngôi cổ tự do Đại Sư Minh Giác – Kỳ Phương (đệ tử Tổ Nguyên Thiều) khai sơn từ đời chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Thái (1687-1691). Năm 37 tuổi Ngài được cung thỉnh làm trụ trì Tổ Đình Thập Tháp. Năm 39 tuổi (1901 – Tân Sửu) Ngài được triều đình ban cho giới đao độ điệp làm Tăng Cang cho chùa Thập Tháp. Năm Duy Tân thứ 2 (1908) Ngài được mời ra Hồng Cung thuyết pháp, đồng thời cũng để khai mở một khóa giảng kinh tại chùa Trúc Lâm. Các vua Thành Thái, Duy Tân và Khải Định đều mời Ngài vào cung giảng pháp. Vì vậy Ngài được triều đình, sơn môn đồ chúng tôn xưng Hòa Thượng Quốc Sư.

Năm 52 tuổi (1920), Ngài mở các lớp nội điển tại chùa Thập Tháp và Long Khánh. Năm 62 tuổi (1930) Hòa Thượng Giác Tiên mở Phật Học Đường tại chùa Trúc Lâm ở Huế, vào tận chùa Thập Tháp mời Ngài ra làm chủ giảng. Từ đó, năm nào Ngài cũng được thỉnh về chùa Trúc Lâm để giảng dạy cho Tăng Sinh. Các đệ tử của Hòa Thượng Giác Tiên là các Sư Mật Khế, Mật Nguyện, Mật Hiển và Mật Thể đều theo học với Ngài và sau này đều trở thành những sứ giả Như Lai trụ cột cho phong trào Chấn Hưng Phật Giáo. Về hàng Cư Sỹ theo học tại Trúc Lâm, nổi bật nhất có Bác Sỹ Tâm Minh – Lê Đình Thám.

Năm 64 tuổi (1932), Hòa thượng cùng với các bậc tôn túc và Bác Sỹ Tâm Minh Lê Đình Thám ở đất thần kinh thành lập Hội An Nam Phật Học và xuất bản tờ báo Viên Âm, cổ xúy “phong trào Chấn Hưng Phật Giáo”, mời Ngài làm Chứng Minh Đạo Sư cho Hội, từ đó ở Huế nhiều Phật Học Đường từ tiểu học đến đại học được mở ở các chùa Trúc Lâm, Tây Thiên, Kim Sơn, Báo Quốc, Diệu Đức v.v… Cuối năm 1934, một lớp đại học mở tại chùa Trúc Lâm do Đại Sư Giác Tiên làm Giám Đốc và một lớp trung học mở tại chùa Tường Vân do Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết trông nom. Hòa thượng được cử làm Đốc Giáo giảng dạy cả hai lớp này. Lớp trung học có nhận những Học Tăng trong Nam do Hội Lưỡng Xuyên Phật Học gửi ra như các vị Thiện Hòa, Thiện Hoa, Hiển Thụy, Hiển Không, Chí Thiện v.v…

Năm 69 tuổi (1937), sau khi Tăng Cang Vạn Thành liễu đạo, sơn môn đồng lòng cung thỉnh Hòa Thượng về Tổ Đình Thập Tháp, chủ giảng Phật Học Đường Long Khánh. Năm 70 tuổi (1938), Ngài ở hẳn tại Bình Định, không ra Huế giảng dạy nữa, phần vì tuổi cao sức yếu, phần vì phải đảm nhận làm Đốc Giáo cho Phật Học Đường cấp trung đẳng mở tại chùa Long Khánh do Hội Phật Học Bình Định thiết lập. Chính vì vậy mà nhiều Học Tăng lớp đại học ở Huế, trong đó có cả các vị do Hội Lưỡng Xuyên Phật Học gửi ra, cùng theo vào tiếp tục học nơi Phật Học Đường Long Khánh, Bình Định.

Về các Phật sự khác, Hòa Thượng trùng tu lại Tổ Đình Thập Tháp được khang trang, tạo nơi đây thành một trung tâm Phật Giáo của tỉnh Bình Định. Ngài khai sơn chùa Phước Long tại thị trấn Phú Phong thuộc xã Bình Phú, huyện Bình Khê, nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

Hòa Thượng Phước Huệ là cây đại thụ của nền Phật Giáo không chỉ ở Trung Kỳ mà còn tỏa bóng xuống phần đất Nam Kỳ nữa. Chính Ngài là vị giảng sư nòng cốt của các trường Đại Học Phật Giáo ở Huế và Bình Định trước và sau thời điểm khởi xướng phong trào Chấn Hưng Phật Giáo ở miền Trung.

Sau bao năm cống hiến tài năng, sức lực và tâm huyết cho công cuộc xây dựng tòa lâu đài Phật Giáo, ngày 22 tháng giêng năm Ất Dậu (1945), Hòa thượng viên tịch tại chùa Phước Long, sau đó đệ tử và môn đồ tứ chúng cung nghinh kim quan Quốc Sư trở về Tổ Đình Thập Tháp an nhập bảo tháp. Ngài thọ 76 tuổi đời, được 56 giới lạp.

TƯỞNG NIỆM:

Đồ chúng và thiện tín xây tháp trong vườn chùa để tôn thờ Ngài. Bấy giờ Hòa Thượng Trí Hải trụ trì chùa Bích Liên (Bình Định) đề 4 câu thơ tại tháp Ngài như sau:

魏 然 一 高 塔
獨 坐 圖 盤 東
外 示 有 為 相
中 藏 無 相 翁

Phiên âm:

Nguy nhiên nhất cao tháp
Độc tọa Đồ Bàn đông
Ngoại thị hữu vi tướng
Trung tàng vô tướng Ông.

Nguồn: Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa (Tập 1)

606 lượt xem