Bốn Pháp Nạn của Phật Giáo Trung Quốc

Nguyên tác Vương Chí Bình

Lược dch Thích Nguyên Chơn

Phật Giáo được truyền vào Trung Quốc vào thời Hậu Hán, sau Khổng Lão khoảng năm thế kỉ, nhưng đã nhanh chóng thâm nhập vào mọi giai tầng xã hội. Từ đó trải qua gần một nghìn chín trăm năm, đến cuối đời Thanh, Phật Giáo vẫn phát triển, mà cực thịnh là vào đời Đường Tống. Đồng thể Tam Bảo vẫn vĩnh hằng, xa lìa mọi biến động của thời không. Nhưng Thế gian trụ trì Tam Bảo thì vẫn phải chịu sự biến diệt. Tức sự lưu thông và hoằng hóa của Đạo ở thế gian này vẫn có hưng suy.

Thực tế trong gần một nghìn chín trăm năm, Phật Giáo Trung Quốc đã trải qua nhiều lần hưng suy, nhưng sâu đậm nhất là bốn lần Pháp Nạn. Học giả Vương Chí Bình người Trung Quốc trong tập Đế Vương D Pht Giáo đã thuật lại bốn Pháp Nạn, đồng thời phân tích nguyên nhân dẫn khởi, và sự phục hưng sau đó. Tuy chưa đầy đủ và có nhiều nhận định chủ quan, nhưng tác giả cũng nêu lên các điểm quan trọng giúp chúng ta thấy được bức tranh diệt Phật của các triều đại phong kiến Trung Hoa.

I. PHÁP NN THÁI VŨ Đ TRIU BC NGY

Sau trận chiến ở Phì Thủy, triều đại Tiền Tần phương Bắc bị diệt vong; các bộ tộc thừa cơ nổi dậy tự phân định cương thổ. Trong đó, thủ lãnh của tộc Tiên Ty là Thác-bạt Khuê, vào năm 386 đứng ra tổ chức đại hội toàn bộ tộc này tại Ngưu Xuyên (gn Hô-hòa-ho-đc thuc Ni Mông ngày nay), tự xưng Đại vương, thành lập vương triều nhà Đại. Không bao lâu, Thác-bạt Khuê dời đô đến Thạnh Đông (tc Hòa-lâm-cách-nhĩ thuc Ni Mông ngày nay), đổi xưng là Ngụy vương. Khoảng mười mấy năm sau, Thác-bạt Khuê dần dần tiêu diệt các chư hầu lân cận, không ngừng mở rộng bờ cõi. Năm 398, Thác-bạt Khuê dời đô về Bình Thành (Đi Đng, Sơn Tây ngày nay), bỏ vương hiệu mà xưng là Bắc Ngụy Đạo Hoàng Đế, từ đó dần dần phát triển thành một triều đại phong kiến thống trị phương bắc thời bấy giờ (thi Nam Bc triu).

Do Phật Giáo đã được truyền bá rộng rãi ở phương Bắc Trung Quốc vào thời kỳ Ngũ Hồ thập lục quốc, đã hình thành một thế lực nhất định, nên lúc mới lập quốc, Thác-bạt Khuê cũng không xem nhẹ Phật Giáo. Theo sử ghi chép thì Ngụy đế vừa thích thuật Hoàng Lão lại vừa rất thích xem đọc kinh Phật. Nhưng vì thiên hạ mới yên định, trăm việc cần phải làm, nên ông chưa đề cập đến việc xây dựng chùa viện, mời thỉnh tăng chúng. Nhưng trong thời gian chiến tranh, ông đặc biệt kính lễ tăng nhân. Bấy giờ có hòa thượng Tăng Lãng thông đạt Phật pháp, cùng với đồ chúng ẩn tu tại Kim Dư cốc ở Thái sơn. Đạo Vũ đế nghe danh, liền gửi thư, tặng vải lụa, bát bằng bạc, đồng thời khen ngợi đạo đức của hòa thượng đồng non biển, thần toán cao xa, mời xuất sơn để cùng mưu định sách lược. Ngoài ra còn có ngài Pháp Quả, thông đạt yếu chỉ hoằng dương Phật pháp. Sau khi Đạo Vũ đế lên ngôi không bao lâu, ngài Pháp Quả liền tôn xưng Đạo Vũ đế là Như Lai ở hiện đời, tất cả sa-môn đều phải kính lễ. Vì thế Đạo đế càng đãi ngộ ngài Pháp Quả, phong làm Đạo Nhân Thống (giống như Tăng chánh đời Hậu Tần, chức vụ thống lãnh Tăng Ni trong nước). Việc sa-môn kính lễ vua chúa này đã biểu hiện sự xung đột mạnh mẽ giữa Phật Giáo và Nho giáo. Ngài Pháp Quả với thân phận tăng nhân yêu cầu sa-môn lễ kính vua chúa, trên một ý nghĩa nhất định nào đó đã phá bỏ mất nguyên tắc bền vững của Phật Giáo. Nhưng ngài đưa ra việc này với một điều kiện như đã nói là xem Đạo Vũ đế như là Như Lai hiện đời, lễ Vũ đế tức lễ Như Lai. Từ điều kiện này mà sa-môn vừa có thể giữ vững nguyên tắc vừa thể hiện tánh linh hoạt, khiến Phật Giáo tiếp tục phát triển trong xã hội Bắc triều.

Qua nhiều lần gặp gỡ các cao tăng đại đức, Đạo Vũ đế dần dần dốc lòng kính tôn Phật Giáo. Lúc mới bình định phương Bắc, Vũ đế ban chiếu xây chùa lập tháp ở kinh đô, giúp cho tăng nhân và tín đồ có nơi cư trú. Như thế, vào thời kì đầu của triều Bắc Ngụy, Phật Giáo đã có một vị trí quan trọng trong xã hội. Sau khi Đạo Vũ đế băng, con là Minh Nguyên đế kế vị. Nguyên đế kế thừa vua cha cũng tôn sùng Hoàng Lão, ưa thích Phật pháp, không những ban chiếu lập chùa tháp ở kinh đô và các nơi mà còn yêu cầu sa-môn hỗ trợ triều đình trong việc trị hóa nhân dân, dùng tín ngưỡng Phật Giáo làm kế sách cho vương quyền. Nguyên đế rất kính trọng và ưu đãi ngài Pháp Quả, nhiều lần ban tặng tước hiệu như: Phụ Quốc Nghi Thành Tử, Trung Tín hầu, An Thành công, khởi đầu cho việc phong tặng tước hiệu cho tăng nhân. Nhưng ngài Pháp Quả kiên quyết từ chối chẳng nhận. Nguyên đế cũng đã nhiều lần đích thân đến trụ xứ của ngài để thưa hỏi Phật pháp. Từ đó có thể thấy được tín tâm lễ kính Phật pháp và cao tăng của Nguyên đế. Sau đó không lâu, ngài Pháp Quả viên tịch, thọ hơn tám mươi tuổi. Lúc chưa tẩm liệm, Nguyên đế đã ba lần đến viếng, truy tặng Lão Thọ Tướng Quân, Việt Hồ Linh công. Sau đó cho con cháu được kế thừa tước hiệu này.

Đạo Vũ đế, Minh Nguyên đế triều Bắc Ngụy tôn sùng Phật Giáo, khiến cho thế lực của Phật Giáo tại phương Bắc ngày càng tăng mạnh, dần dần hình thành một lực lượng xã hội lớn không thể xem thường. Điều này tất nhiên khiến cho sự mâu thuẫn giữa Phật Giáo và tư tưởng văn hóa truyền thống, chánh trị thế tục của Trung Quốc ngày càng sâu đậm.

Năm 424, Thái Vũ đế Thác-bạt Đảo kế vị. Các sử đều ghi rằng lúc mới lên ngôi, Thái Vũ đế cũng đi theo sự nghiệp của Đạo Vũ và Minh Nguyên, thường đàm luận Phật pháp với các cao tăng đại đức. Hơn nữa, vào ngày Phật Đản mồng tám tháng tư hàng năm, Thái Vũ đế thường ban sắc cung nghinh tượng Phật diễu hành qua các phố lớn trong kinh thành, còn tự thân lên lầu xem xét việc rải hoa cúng dường. Sau khi lên ngôi không bao lâu, Vũ đế xuất quân ra Hà Tây, bình định Lương Châu, đón một số lớn tăng lữ về Bình Thành, khôi phục các danh lam thắng tích, đồng thời xây dựng chùa Tông Chánh ở Nghiệp Thành. Do đó có thể biết, vào thời kì đầu Thác-bạt Đảo không có ác ý với Phật Giáo, mà còn có thể nói ông đã qui y Tam Bảo. Các sử cho rằng về già Vũ đế quan tâm đến võ công, lấy việc bình định loạn lạc làm đầu. Tuy ông ta có tâm sùng tín Phật pháp, kính trọng sa-môn, nhưng chưa xem kinh giáo, nên không thể hiểu được yếu nghĩa nhân duyên quả báo… của Phật pháp.

Khi mới thành lập, triều Bắc Ngụy muốn mở rộng bờ cõi, củng cố bộ máy thống trị, nên cần phải có quân binh phu dịch, lương thực, thuế má đầy đủ. Nhưng theo thể lệ các triều trước, sa-môn Phật Giáo được miễn những điều ấy, làm ảnh hưởng đến nguồn nhân lực, vật lực của triều đại phong kiến. Do đó, vào năm 438 (niên hiu Thái Duyên th tư), Thái Vũ đế hạ chiếu cưỡng ép sa-môn dưới năm mươi tuổi phải hoàn tục để bổ sung vào quân đội. Đồng thời, Vũ đế lại chú trọng Nho học, muốn sử dụng văn hóa truyền thống tiền tiến của Trung Nguyên và chế độ chính trị để củng cố đế quyền của mình, đồng thời tranh thủ sự hợp tác của các tầng lớp sĩ phu và địa chủ người Hán. Từ mục đích này mà Thái Vũ đế đã dễ dàng chịu ảnh hưởng của Đạo giáo mà sĩ phu Hán tộc đã chú trọng.

Tín đồ Đạo giáo tôn Lão Tử, giáo tổ của mình làm Quốc sư, gọi Phật Giáo là giáo của Tây Nhung, gọi Phật là Hồ thần, chủ trương thuật trường sanh bất lão. Tất cả các điều này đều nhằm tạo ảnh hưởng trực tiếp đến Thái Vũ đế. Hơn nữa, bấy giờ trong triều có Tư Đồ Thôi Hạo xuất thân từ danh gia vọng tộc, làu thông kinh sử, giỏi thuật âm dương ngũ hành và toán số, thường được phép tham dự nghị bàn các việc quân cơ quan trọng. Thôi Hạo lại sùng tín Thiên Sư đạo của Khấu Khiêm Chi, bài xích Phật Giáo. Trong lúc tiếp xúc luận đàm với Thái Vũ đế, Thôi Hạo thường hủy báng Phật pháp, cho Phật pháp là giả dối, hoang đường; là một mối họa lớn cho quốc gia. Do bị ảnh hưởng trực tiếp từ Thôi Hạo mà Thái Vũ đế dần dần tin vào Thiên Sư đạo của Khấu Khiêm Chi.

Khiêm Chi tự là Phủ Chân, thuở nhỏ đã thích tiên đạo, chuyên tu theo Ngũ Đấu Mễ đạo do Trương Lăng, Trương Hành, Trương Lỗ cuối đời Hán sáng lập, lại theo các phương sĩ vào Hoa sơn, Tung sơn tu luyện. Theo lời truyền, Khiêm Chi được Thái Thượng Lão Quân trao cho địa vị Thiên sư và bộ Vân trung âm tng tân khoa chi gii, hai mươi quyển. Đồng thời ông cũng bảo Khiêm Chi chỉnh đốn lại Đạo giáo, trừ dẹp ngụy pháp của ba người họ Trương và truyền cho thuật nam nữ hợp khí. Lại cho rằng Khiêm Chi được huyền tôn của Lão Tử là Lý Phổ Văn trao cho Lc đ chân kinh hơn sáu mươi quyển. Phổ Văn yêu cầu Khiêm Chi phò giúp Thái Bình Chân Quân truyền bá Đạo giáo, xây dựng am quán v.v… Vào cuối đời Nguyên Minh đế, Khấu Khiêm Chi rời Tung Sơn đến Bình Thành, kết giao với Thôi Hạo, sáng tối cùng nhau luận đàm về các sự tích trị loạn xưa nay. Khiêm Chi thường than rằng: “Ta chuyên tu đạo, chỉ ẩn cư mà không màng đến thế lợi, nhưng vì sự phó thác của thần nên cần phải học thêm Nho thuật để phò giúp Thái Bình Chân Quân, tiếp nối dòng đạo đã nghìn năm tuyệt dứt”. Thôi Hạo cũng soạn hơn hai mươi thiên, cùng với Khiêm Chi kẻ xướng người hòa.

Khoảng trước sau niên hiệu Thủy Quan thứ nhất (424), thông qua Thôi Hạo, Khiêm Chi dâng lên Thái Vũ đế bộ sách của Đạo giáo, Thôi Hạo suy cử rằng: “Xưa nay các bậc thánh vương nhận lãnh mệnh trời đều có điềm lành ứng hiện. Nay có một tiên nhân đạo đức trong sáng đang ẩn cư, chẳng mời mà tự đến, thật phù hợp với việc ứng thiên mệnh của bệ hạ. Nhất thiết không nên tin theo lời lẽ thường tình của thế tục mà xem thường mệnh trời linh ứng”.

Sau khi nhận được Đạo thư, Thái Vũ đế liền tin phụng Đạo giáo. Ông ta không chỉ kính phụng Khiêm Chi là Thiên sư mà còn đưa hơn bốn mươi đệ tử của Khiêm Chi về kinh, lập đạo tràng Thiên Sư ở phía nam kinh thành để tế tự lễ bái, lại sai người mang ngọc, lụa, ba con vật đến tế thần Tung sơn. Từ đó về sau, Khiêm Chi thường xuyên tham dự triều chính. Năm 441 Khiêm Chi tâu:

– Bệ hạ là Chân quân ngự ở thế gian, từ xưa đến nay chưa từng có. Vì thế cần phải lên đàn nhận “Phù lục” để làm sáng tỏ thánh đức!

Vũ đế nghe theo, đổi niên hiệu là Thái Bình Chân Quân, sai người lập Đạo đàn. Qua năm sau, Đế lên đàn nhận “Phù lục” tuyên dương khắp thiên hạ. Được sự tín phụng của Thái Vũ đế, Đạo giáo đã phát triển toàn diện, thế lực ngày càng lớn mạnh. Khấu Khiêm Chi v.v… lại không ngừng khích động nhằm khiến Thái Vũ đế tiến hành bài xích Phật Giáo. Tháng giêng niên hiệu Thái Bình Chân Quân thứ năm (444), Vũ đế ban chiếu:

– Hàng ngu dân vì không biết mà tin lầm yêu tà, nuôi dưỡng các vu sư (người chiêm tinh bói toán), cất giữ sách sấm kí, âm dương, đồ thư, phương kỉ. Lại có các sa-môn Phật Giáo mượn sự hoang đảng của Tây Nhung (Tây Trúc) để phát sinh điều xấu ác. Vì thế từ vương công cho đến thứ dân không được nuôi dưỡng sa-môn, vu sư trong nhà, nếu đến kì hạn mà không giao nộp thì tội chết chẳng tha.

Xét chiếu thư này, Vũ đế chỉ cấm nuôi dưỡng sa-môn và vu sư, cấm cất giữ các sách âm dương, đồ thư, sấm kí; chủ yếu là đối trị việc mưu phản của thần dân. Bởi vì năm trước có xảy ra sự kiện thừa tướng Trương Tung cầu tìm đồ thư sấm kí để mưu phản. Đồng thời cũng từ đó mà biết rằng Vũ đế bài xích Phật Giáo chỉ vì cho Phật Giáo là một tôn giáo ngoài bang, mà chưa đề cập đến Đạo giáo. Như thế, đủ thấy việc ban hành chiếu thư này có liên quan đến việc Đạo giáo tiến hành khích động để tranh thủ ân sủng của Vũ đế.

Niên hiệu Thái Bình Chân Quân thứ sáu (445), một người Hồ ở Lô Thủy là Cái Ngô tập hợp đồ chúng khởi nghĩa tại Hành Thành (nay là Hoàng Lăng, Thim Tây), dựng cờ đấu tranh võ trang phản kháng sự thống trị của triều đình Bắc Ngụy, được nhân dân Hán, Hồ ở các vùng Thiểm Tây, Cam Túc nhiệt liệt hưởng ứng, vì thế tạo được một lực lượng rất lớn mạnh. Qua năm sau, Thái Vũ đế thân chinh thống lãnh binh mã đến Trường An, chỉ huy trấn áp cuộc khởi nghĩa của Cái Ngô. Trong thời gian ở Trường An, một hôm ngẫu nhiên Vũ đế phát hiện trong một ngôi chùa có cất chứa binh khí, số lượng lớn vật dụng nấu rượu và nhiều tài vật khác của các nhà giàu gởi. Đồng thời trong mật thất của chùa có rất nhiều phụ nữ ẩn núp. Việc phát hiện này đã tạo thành nguyên nhân trực tiếp châm ngòi cho Thái Vũ đế hủy diệt Phật pháp. Ông ta cho rằng sa-môn không được tàng trữ vũ khí, vậy sa-môn ở Trường An nhất định liên kết với Cái Ngô, lại còn cất chứa vật dụng nấu rượu và phụ nữ là vi phạm giới luật. Do đó, từ sự kiến nghị của Thôi Hạo, Vũ đế ban lệnh giết hết sa-môn, đập phá tôn tượng, thiêu đốt kinh điển. Đồng thời, ban sắc cho quan Lưu thú Bình Thành là thái tử Thác-bạt Hoảng hạ lệnh cho các châu huyện khắp nơi làm theo Trường An, đồng hủy diệt Phật pháp.

Thái tử Thác-bạt Hoảng vốn tin phụng Phật pháp, sau khi nhận lệnh của Thái Vũ đế, đã nhiều lần dâng biểu cầu xin, nhưng Vũ đế kiên quyết chẳng chịu, mà còn nói: “Phật Giáo là giáo của ngoại bang, chẳng gần gũi nhân tình. Do Phật Giáo thịnh hành mà chánh giáo không sáng tỏ, lễ nghi bị bại hoại, dẫn đến sự sụp đổ của nhiều triều đại. Do đó Quân hầu, Thứ sử của các trấn cần phải đốt phá tất cả kinh tự Phật Giáo, chôn sống tất cả sa-môn chẳng kể già trẻ, không nên lưu tình!”.

Chiếu thư này đã biểu lộ dã tâm tận diệt Phật Giáo của Vũ đế. Nhưng Lưu thú Bình Thành trì hoãn việc tuyên chiếu thư, tạo cơ hội cho phần lớn sa-môn các nơi lẩn trốn, cất giấu kinh tượng. Cuối cùng chỉ có một số chùa tháp bị phá hủy và một số sa-môn bị quân binh chia nhau vây bắt, cưỡng bức bỏ đạo. Nếu ai trốn thoát, mà lại bị bắt thì bị chém đầu hoặc chôn sống. Vì thế trong cả nước không còn thấy bóng dáng sa-môn. Thái Vũ đế diệt Phật lần này, chính là tai họa đầu tiên của Phật Giáo sau khi truyền vào Trung Quốc, nó có căn nguyên lịch sử xã hội rất sâu xa. Trước hết, lần diệt Phật này là kết quả tất nhiên từ sự mâu thuẫn sâu sắc giữa Phật Giáo và chính trị thế tục. Phật Giáo truyền vào Trung Hoa vào thời Lưỡng Hán, sau đó trải qua mấy trăm năm lưu truyền và phát triển, dần dần hình thành một lực lượng lớn có thế lực trong xã hội. Số lượng tăng lữ đông làm ảnh hưởng đến binh lực và nguồn thu nhập của triều đình phong kiến. Kế đến là lập nhiều chùa viện, được cấp nhiều ruộng đất canh tác, hình thành chế độ kinh tế tự viện có quy mô, việc này phát sinh mâu thuẫn với nền kinh tế thế tục thời phong kiến. Ngoài ra còn có một số tăng nhân tham dự vào việc chính trị quan trọng của nhà nước phong kiến, trong một chừng mực nào đó đã ảnh hưởng đến quyết sách của việc cai trị … Từ các phương diện ấy, nếu chẳng phối hợp một cách hợp lí thì nhất định xẽ xảy ra sự xung đột mãnh liệt.

Kế đến, lần diệt Phật này là kết quả tất nhiên từ sự xung đột mạnh giữa Đạo giáo và Phật Giáo. Từ thời Lưỡng Tấn, sự mâu thuẫn hoặc âm thầm hoặc biểu lộ giữa Phật và Đạo chưa bao giờ ngừng dứt. Đến thời Vũ đế triều Bắc Ngụy, Thôi Hạo… mượn thế lực của triều đình để đả kích Phật Giáo. Có thể thấy, Vũ đế diệt Phật hủy pháp vừa có tính chất chính trị thế tục phong kiến phản kích Phật Giáo, lại có tính chất Đạo giáo đả kích Phật Giáo.

Năm 448, Khấu Khiêm Chi qua đời. Niên hiệu Thái Bình Chân Quân thứ mười một (450), Tư đồ Thôi Hạo bị tru diệt. Hai năm sau, Thái Vũ đế bị một thái giám giết chết, Văn Thành đế Thác-bạt Duệ bấy giờ mới mười ba tuổi lên kế vị, hạ chiếu phục hưng Phật pháp. Nội dung chiếu thư, Thành đế ca ngợi Phật Giáo phò giúp vương quyền, làm tăng trí nhân, dẹp tá ác, mở đường chánh giác. Cho rằng việc diệt Phật pháp của Vũ đế là do quan lại các cấp hiểu sai thánh chỉ của hoàng đế dẫn đến. Đồng thời lệnh cho quận huyện các châu xây dựng lại chùa tháp, cho phép trăm họ xuất gia, qui định trong một châu lớn được 50, châu nhỏ được 40 người… Từ đó, hình dáng sa-môn hiện diện khắp Bắc Ngụy, chùa tháp nhanh chóng được khôi phục, tượng Phật được tôn tạo, kinh điển lại lưu thông.

Đồng thời với việc khôi phục Phật pháp, Thành đế còn vì sự phát triển của Phật pháp mà ban cho một nguồn kinh tế rất ổn định. Như trong khoảng từ năm 460-465, triều đình suy cử ngài Đàm Diệu làm Sa-môn thống (ging Đo nhân thng), quản lí Tăng Ni trong cả nước. Ngài Đàm Diệu tâu xin những hộ nông dân vốn là tù binh mỗi năm nộp cho Tăng tào (cơ quan qun lí chùa vin ca chính ph) sáu mươi hộc lúa để Tăng tào chi dùng. Văn Thành đế chuẩn tấu. Những hộ dân này gọi là Tăng-kì hộ, lúa này gọi là Tăng-kì lật. Ngài Đàm Diệu lại xin cho những người phạm trọng tội và nô dịch của quan về làm Phật- đồ hộ để quét dọn và làm các việc trong chùa viện. Văn Thành đế cũng đồng ý. Như thế, sự khôi phục và phát triển Phật Giáo thời Bắc Ngụy đã có một nền móng vững chắc tất yếu.

Trong thời gian làm Sa-môn thống, ngài Đàm Diệu đã chỉ đạo việc khai đục năm hang động tại Bình Thành, Vũ Châu, mỗi nơi tạo một tượng Phật cao từ sáu đến bảy mươi thước, khởi đầu cho việc tạo lập các hang động Phật Giáo tại Đại Đồng, Vân Cương.

Sau Văn Thành đế thì Hiến Văn đế, Hiếu Văn đế, Tuyên Vũ đế, Hiếu Minh đế đời Bắc Ngụy đều mến mộ Phật pháp. Những vị vua này hoặc ban chiếu lập chùa, hoặc lập pháp hội, hoặc tạo hang động… khiến Phật Giáo khôi phục nhanh chóng. Theo các sử thì vào cuối đời Bắc Ngụy, toàn quốc có hai triệu Tăng Ni, ba mươi ngàn ngôi chùa viện. Nhìn chung, Phật Giáo vào thời Bắc Ngụy, tuy có Pháp Nạn Vũ đế, nhưng được khôi phục và phát triển rất nhanh. Sự nhanh chóng của quá trình diệt vong và hưng khởi thật vượt ra ngoài sự dự liệu của con người, biểu thị rằng Phật Giáo lúc bấy giờ đã trải qua một thời kì xã hội xác thực biến động.

II. PHÁP NN VŨ Đ TRIU BC CHU

Vào những năm cuối cùng của triều đại Bắc Ngụy, sự mâu thuẫn giai cấp trở nên trầm trọng, xã hội biến động bất an, sự tranh quyền đoạt lợi trong chốn quan trường cũng mãnh liệt. Do đó triều Bắc Ngụy tồn tại khoảng 150 năm dần dần bị phân liệt. Năm Vĩnh Hy thứ ba tức năm 534, Hiếu Vũ đế triều Bắc Ngụy chạy về Trường An. Bộ tướng của Bắc Ngụy là Cao Hoan lập Hiếu Tỉnh đế Nguyên Thiệu lên ngôi, dời đô về đất Nghiệp. Từ đó về sau, Bắc triều gồm hai trung tâm chính trị là Trường An và Nghiệp Đô, gọi là Tây Ngụy và Đông Ngụy. Vào năm 550, con Cao Hoan là Cao Dương phế bỏ triều Đông Ngụy, kiến lập triều đại Bắc Chu. Năm 577, Bắc Chu diệt Bắc Tề. Năm 580, Bắc Chu trên cơ bản đã thống nhất phương Bắc. Năm sau, Dương Kiên phế Bắc Chu, kiến lập triều đại nhà Tùy. Với những lần Pháp Nạn như thế, Trung Quốc đã mất đi không ít những báu vật văn hóa của mình.

Hành động diệt Phật của Thái Vũ đế triều Bắc Ngụy đã khiến cho Phật Giáo ở phương Bắc suy vi. Nhưng sau đó Văn Thành Đế lên ngôi ra sức khôi phục, Phật Giáo đã nhanh chóng hưng thịnh. Vì ảnh hưởng toàn cảnh xã hội và tư tưởng văn hóa Trung Quốc thời bấy giờ nên Phật Giáo Bắc triều so với Nam triều có những điểm khác biệt. Phật Giáo Bắc triều chú trọng trì giới tu thiền, còn Phật Giáo Nam triều chú trọng đến nghĩa lý, dùng Đạo để giải thích Phật. Phật Giáo Bắc triều xem trọng việc lập chùa tạo tượng để tích lũy công đức, hy vọng ở đời sau. Theo đó, vào cuối triều Bắc Ngụy, chùa viện mọc lên khắp nơi, chỉ ở thành Lạc Dương đã có hơn ngàn ngôi chùa, tất cả đều tráng lệ. Triều Bắc Ngụy chỉ trong hơn hai mươi năm trị vì đã lập hơn bốn nghìn ngôi chùa, hai triệu Tăng Ni. Ở lãnh thổ của Bắc Chu cũng có hơn một nghìn ngôi chùa. Như thế ta có thể thấy được sự phát triển chưa từng có của Phật Giáo Bắc triều.

Sự phát triển ấy đương nhiên là có quan hệ trực tiếp đến việc các vua Bắc triều đề xướng Phật Giáo. Nhưng chẳng phải là thuận buồm xuôi gió. Bằng chứng là hơn một trăm năm sau Pháp Nạn Vũ đế Thác-bạc Đảo của Bắc Ngụy lại đến Pháp Nạn Vũ đế Vũ Văn Ung triều Bắc Chu.

Vũ đế Vũ Văn Ung của Bắc Chu lên ngôi năm 560. Lúc đầu ông cũng có cảm tình đối với Phật Giáo, từng tạc tượng Thích-ca một trượng sáu và khoảng hai trăm hai mươi pho tượng bồ-tát, thánh tăng; kim cang sư tử được khắc chạm quanh bảo tháp. Ông lại xây chùa Minh Quốc, chùa Hội Xương, chùa Vĩnh Minh…, xuất tư tài độ tám trăm vị làm tăng, sai người chép hơn một nghì bảy trăm bộ kinh Phật. Như thế có thể thấy lúc mới lên ngôi, Chu Vũ đế rất có nhiệt tâm đối với Phật Giáo. Theo sự ghi chép của Phật Giáo sử, sỡ dĩ Vũ đế diệt Phật là do đạo sĩ Trương Tân và tăng nhân Vệ Nguyên Tung khích động. Nhưng theo sự thật, lúc đầu Vũ đế không có ý tuyệt diệt Phật pháp, chỉ yêu cầu nhìn từ góc độ tồn vong của nền chính trị phong kiến, xét kỹ ba đạo Nho, Thích, Lão đạo nào mang lại lợi ích nhiều nhất, từ đó mà ấn định vị trí trước sau cho ba đạo. Trong quá trình xét định ấy, sự tranh đấu giữa ba đạo xảy ra rất gay gắt và mãnh liệt. Nhất là Phật và Đạo, gần như “kẻ còn người mất”, không mảy may nhượng bộ, kết quả mới dẫn đến bi kịch diệt pháp. Trong đó, sự nghị luận và kiến giải của Vệ Nguyên Tung và Trương Tân có tác dụng kiên định quyết tâm diệt pháp của Vũ đế.

Năm Thiên Hòa thứ nhất (566), Vũ đế nhiều lần triệu tập quần thần, sa-môn, đạo sĩ thảo luận về Nho, Thích, Đạo. Ông yêu cầu tất cả tăng, tục, đạo có thể nêu lên điều muốn nói và phát biểu các ý kiến bất đồng. Do đề nghị này, nên vào năm Thiên Hòa thứ hai (567), có một tăng sĩ tên là Vệ Nguyên Tung dâng biểu lên Chu Vũ đế, nội dung đề nghị giảm bớt số lượng chùa viện và Tăng Ni.

Vệ Nguyên Tung người ở Thành Đô, thuở nhỏ từng xuất gia làm tăng, thờ một vị đại sư nổi tiếng bấy giờ làm thầy. Nguyên Tung còn thông thạo âm dương toán số, giả cuồng để tạo tiếng tăm, đi khắp nơi biên lời sấm, làm thơ ca, dự toán vị lai, sau hoàn tục, từ Thục vào Trường An, kết giao với các bậc quyền quý triều Bắc Chu, được Chu Vũ đế đãi ngộ. Trong bài biểu, Nguyên Tung nêu mười lăm điều, nội dung chủ yếu gồm ba điểm sau đây:

– Thứ nhất, chùa tháp và tượng Phật không có ích cho việc trị quốc an dân, cần phải phế bỏ. Ông ta cho rằng vào đời Đường Ngu thạnh trị, đã chẳng có Phật Giáo mà thiên hạ an bình. Tề Lương đời nay thịnh hành đạo Phật vô vi, chùa tháp lập khắp nơi, nhưng trái lại khiến quốc gia suy vong. Do đó có thể thấy, tin Phật chẳng phải ở việc lập chùa tạo tháp, mà cần phải thấu hiểu được tinh thần cơ bản của Phật Giáo là lấy Đại bi làm gốc, an lạc quần sanh ích quốc lợi dân. Theo tinh thần này, chính là bảo chẳng nên bắt nhân dân làm sai dịch để tạo lập nhiều chùa Phật, cũng chẳng cần lễ bái tượng Phật.

– Thứ hai, nên triệt để cải cách Phật Giáo, đặt Phật Giáo vào quốc pháp. Ông ta cho rằng cần phải kiến lập một xã hội lý tưởng. Trong đó Nho, Thích, Đạo dung hợp nhau. Trong xã hội này hoàng đế chính là Phật Tổ được tất cả mọi người tôn kính. Tín đồ không phân biệt tăng tục, qua sinh hoạt vợ chồng cũng có thể đắc đạo. Không lập chùa viện; hệ thống tổ chức giáo đoàn và xã hội thế tục thống nhất thành một thể. Đạo đức Phật Giáo tức là đạo đức xã hội.

– Thứ ba, thông qua việc tổ chức kinh tế để cải biến phong cách hủ bại gian tham trong giới Phật Giáo. Ông ta đề xuất: Đối với các Tăng Ni có đức hạnh sống đời đạm bạc thì chủ trương thu tô và điều(*), nhưng miễn trừ lao dịch. Còn các vị tăng giàu có, nhưng không đủ phẩm hạnh, ngoài việc nộp tô điều còn phải lao dịch. Dùng biện pháp này để kiên định lòng trung hiếu và trừng trị kẻ gian tham, hầu đạt đến mục đích cải biến phong cách hủ bại trong Phật Giáo.

Mục đích luận nghị của Vệ Nguyên Tung, chủ yếu nhằm vào những người chỉ chuộng nói suông và những kẻ gian tham hủ bại trong giới Phật Giáo bấy giờ. Theo đó ông đề ra một phương cách căn bản hầu cải cách Phật Giáo. Ông không yêu cầu phế bỏ Phật Giáo mà chỉ muốn Phật Giáo dùng đại từ đại bi cứu độ quần sanh, bình đẳng an lạc để lập giáo, khiến cho Phật Giáo kế tục phát triển.

Sau khi xem tờ biểu tấu này, Chu Vũ đế vô cùng vui mừng. Nhất là việc Vệ Nguyên Tung đã tán dương Vũ đế là vị vua siêng năng chăm lo trị quốc, làm nước giàu dân lợi, là Như Lai của thời nay, yêu cầu thần dân cả nước đồng tôn kính. Điều ấy đã tranh thủ được lòng tin của Chu Vũ đế.

Từ kiến giài của Nguyên Tung, về ý nghĩa đã kiên định được quyết tâm định đặt vị thứ cho ba đạo Nho, Thích, Lão của Vũ đế. Vào năm Thiên Hòa thứ 2, tức năm 569, Chu Vũ đế triệu tập quần thần, nho sĩ, sa-môn, đạo sĩ tại triều để thảo luận về sự hơn kém của ba đạo. Trải qua bàn bạc, tranh luận, cuối cùng Vũ đế xếp Nho giáo lên hàng đầu, Đạo giáo thứ hai và Thích giáo sau cùng. Không bao lâu Vũ đế lại triệu tập mọi người để tiến hành luận nghị, ông ta luận biện: “Nho giáo và Đạo giáo vốn là tín ngưỡng đã có ở nước ta, còn Phật Giáo đến sau, chớ chẳng phải ý Trẫm định đặt!”. Sau đó lại có một số người, phần lớn là sa-môn không đồng ý với việc sắp xếp này. Vũ đế lại hạ chiếu cho Tư khang đại phu Chân Loan thẩm định rõ sự sâu cạn, luận biện sự chân ngụy của Phật và Đạo, làm cơ sở cuối cùng cho việc định đặt vị thứ. Chân Loan vâng lãnh chiếu chỉ, không bao lâu đã soạn thành bộ Tiếu Đo lun ba quyển gồm ba mươi sáu điều. Với luận cứ rõ ràng, đầy đủ, mạnh mẽ, tiến hành bài bác và công kích Đạo giáo.

Trong luận, đầu tiên Chân Loan phân biệt Đạo giáo thời Tiền Tần và Đạo giáo ngày nay, chấp nhận Lão Tử mà bài xích Đạo giáo. Kế đến đưa ra nhiều tư liệu tiến hành khảo chứng thuyết “Lão Tử hóa Hồ”, rồi xác định thuyết này là sai lầm. Ông cho rằng thuyết “Thiên địa thần tiên” của Đạo giáo là hư ngụy; uống linh đơn, phương thuật thành tiên cũng hoang đường. Cuối cùng ông còn chỉ ra phần lớn kinh điển của Đạo giáo là ngụy tác. Tiếu Đo lun đã đứng trên lập trường Phật Giáo để phân tích và bài bác Đạo giáo, phản ảnh nội dung trọng yếu của cuộc luận tranh Thích, Đạo vào thời Bắc triều. Sau khi luận hoàn thành, Vũ đế lại triệu tập quan viên, sa-môn và đạo sĩ tiến hành luận nghị. Cuối cùng Vũ đế cho luận này làm tổn thương đến các đạo sĩ nên ban lệnh đốt bỏ, không cho lưu truyền.

Sau khi Tiếu Đo lun bị đốt bỏ, hòa thượng Đạo An (không phi ngài Đo An thi Nhũ H thp lc quc) cho rằng thời thế hỗn loạn, sử sách thất lạc, cần phải tiến xa hơn là khảo chứng sự hơn kém của ba giáo. Do đó ngài soạn Nh giáo lun một quyển, mười hai thiên theo thể hỏi đáp. Người hỏi là Đông Đô Dật Tuấn đồng tử, người đáp là Tây Kinh Thông Phương tiên sanh. Cả hai đứng trên lập trường Phật Giáo, nhằm vào các quan điểm về Tam giáo đang phổ biến trong xã hội đương thời mà đề xuất kiến giải của chính mình. Ngài cho rằng giáo pháp giáo hóa chỉ có Nho và Thích. Còn Đạo giáo không thể độc lập, phải tùy thuộc Nho giáo. Nhưng Nho giáo là giáo hướng ra bên ngoài, chỉ cứu được hình thể của con người. Phật Giáo là giáo hướng về bên trong, cứu giúp tinh thần con người. Nho giáo là giáo phương nội (ti thế), không thể cứu giúp con người siêu thoát sanh tử. Phật Giáo là giáo xuất thế, nói về thiện ác báo ứng, nhân quả luân hồi…, dạy người xuất thế trở về chân. Qua so sánh, ngài xác định Phật Giáo đã Tinh lại Ưu, Nho giáo đã Thô mà Liệt.

Ngoài ra, trong luận còn phê bình sự hư vọng ngụy trá của Đạo giáo. Ngài cho rằng Đạo giáo của Lão Trang chủ trương hư vô lặng lẽ, lắng tâm tiết dục là phù hợp với nguyên tắc của Đạo giáo. Nhưng Đạo giáo sau này lại nói luyện đan, phục dược, thăng thiên thành tiên, tất cả đều hư vọng.

Không luận là ngài Chân Loan hay ngài Đạo An, khi luận nghị về việc định đặt thứ vị ba giáo vào thời Chu Vũ đế, đều nhằm kích bác Đạo giáo. Quyền hành của Bắc triều rất lớn, ba giáo chỉ nghe theo mệnh lệnh mà thi hành. Bấy giờ hoàng đế tôn sùng Nho giáo. Vì thế các ngài tuy có chê bai Nho giáo, nhưng không dám triệt để phủ định. Các sa-môn đã tôn hoàng đế là Như Lai nên họ cũng chẳng dám không lễ kính hoàng đế. Thêm vào đó, hoàng đế lại định thứ tự Nho giáo, Đạo giáo rồi mới đến Phật Giáo. Do đó họ mới nhắm vào Đạo giáo của Lão Trang mà bài xích. Lập trường và lý luận của các ngài dù xoay quanh vấn đề ấn định thứ vị trước sau của ba giáo. Nhưng về sau đã trở thành sự hủy báng và công kích nhau giữa các phái, khiến cho chủ đề ấn định vị thứ ba giáo bắt đầu phát triển theo chiều hướng cực đoan.

Niên hiệu Kiến Đức thứ hai, tức năm 573, Chu Vũ đế lần cuối cùng muốn ấn định vị thứ của ba giáo. Ông triệu tập quần thần, sa-môn, đạo sĩ tại triều đình để tiến hành luận nghị. Cuối cùng vẫn quyết định đầu tiên là Nho giáo, kế đến là Đạo giáo và sau cùng là Phật Giáo. Với quyết định này, có một số tăng lữ Phật Giáo không phục, yêu cầu tiếp tục luận nghị, nhất là bàn về sự hơn kém giữa Phật và Đạo. Năm sau, tức năm 574, Chu Vũ đế hạ chiếu triệu tập tăng nhân và đạo sĩ tại điện Thái Cực ở kinh đô để đối luận. Bấy giờ đạo sĩ Trương Tân đại biểu cho Đạo giáo, ngài Trí Huyền đại biểu cho Phật Giáo, hai bên ở trước mặt Chu Vũ đế tranh luận gay gắt. Theo Phật Giáo sử thì ngài Trí Huyền khuất phục được Trương Tân. Nhưng Chu Vũ đế ủng hộ Đạo giáo, nêu lên quan điểm của mình về Phật Giáo như sau:

Phật Giáo có ba bất tịnh, không ích lợi đối với quốc gia:

1. Chủ bất tịnh: Ông cho rằng trước khi xuất gia, Đức Phật Thích-ca đã có gia đình.

2. Giáo bất tịnh: Ông cho rằng Phật cho phép tăng nhân ăn ba loại tịnh nhục.

3. Chúng bất tịnh: Ông cho tăng chúng thích hành dâm dật, nhiều tội lỗi, chúng bất hòa, công kích nhau.

Sau đó Vũ đế kết luận: “Phật Giáo có Chủ, Giáo và Chúng đều bất tịnh, trẫm sẽ phế bỏ để dứt trừ sự hư huyễn. Đạo giáo không có ba bất tịnh, nên trẫm sẽ giữ lại để hỗ trợ cho việc trị quốc”.

Nhưng sau đó không lâu, Vũ đế hạ chiếu cấm cả Phật và Đạo, bắt Tăng Ni, đạo sĩ hoàn tục, dẹp bỏ các dâm từ(*) . Lại tước đoạt điền sản của hai đạo để cấp phát cho quan lại. Chùa viện, am quán cũng lấy ban cho các vương công. Ngoài ra, Vũ đế lập Thông Đạo quán, chọn một trăm hai mươi tăng sĩ và đạo nhân xuất sắc bổ làm Thông Đạo quán học sĩ, ép học tập nghiên cứu Chu Dịch và Tam huyền là Lão Tử, Trang Tử. Vũ đế lại bảo họ hội thông Tam giáo, đồng thời phân cấp đủ các thuộc sứ tùy tùng. Năm Kiến Đức thứ sáu, tức năm 577, Bắc Chu diệt Bắc Tề. Vũ đế đích thân đến Nghiệp Đô triệu tập tăng chúng nước Tề, tuyên bố phế bỏ Phật pháp, triệt hạ tất cả tháp Phật công tư, lớn nhỏ đã tạo mấy trăm năm ở đất này; đoạt bốn vạn ngôi chùa viện để cấp cho vương công đại thần làm phủ đệ. Ba trăm vạn tăng nhân bị cưỡng ép hoàn tục, trở về gia đình. Như thế Phật Giáo ở phương Bắc Trung Quốc một lần nữa lại bị hủy diệt.

Pháp Nạn do Chu Vũ đế gây ra lần này không giống với lần diệt Phật của Ngụy Vũ đế. Ở lần này trước tiên, Chu Vũ đế phế cả Phật và Đạo. Theo Phật Giáo sử, Trương Tân đã làm cho Vũ đế tin rằng màu đen biểu thị cho điềm dữ, màu vàng biểu thị cho điềm lành. Đồng thời bốc một quẻ cho Vũ đế, đoán rằng người diệt nhà Chu là kẻ mặc áo đen, mà bấy giờ các tăng sĩ lại mặc áo đen, cho nên Vũ đế mới dốc tâm diệt Phật. Thuyết này rõ ràng là không thực tế. Nếu thế vì sao lại phế cả Đạo giáo? Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến Phật và Đạo đều bị phế, là vì cả hai công kích lẫn nhau không nhân nhượng, có xu thế làm suy tổn tư tưởng thống trị thế tục, cho nên Chu Vũ đế mới quyết định diệt pháp. Lần này, tuy phá hoại phần lớn chùa tháp, đốt rất nhiều kinh điển, nhưng chưa giết sa-môn và đạo sĩ. Ông chỉ cưỡng bức hoàn tục, không như Ngụy Vũ đế chôn sống sa-môn. Vũ đế lại lập Thông Đạo quán, tuyển chọn một số tăng nhân, đạo sĩ học Tam huyền, mục đích hội thông Tam giáo, đương nhiên là lấy Nho giáo làm chánh thống.

Từ các điểm nêu trên ta có thể thấy lần diệt pháp này, nếu nhìn từ quá trình, tức đã trải qua thời gian dài thảo luận, trong suốt mấy năm Vũ đế đã liên tiếp mấy lần triệu tập hội nghị, luận biện qua lại. Nhìn từ điểm xuất phát, thì động cơ đầu tiên của Vũ đế là muốn định đặt vị trí Tam giáo, nhưng sau do Phật Đạo tranh nhau gay gắt nên mới dẫn đến bi kịch diệt pháp. Nhìn từ kết cuộc diệt pháp thì Vũ đế không có ý chủ quan diệt tận Phật pháp. Vì thế sự diệt Phật của Chu Vũ đế có vể thận trọng hơn Ngụy Vũ đế.

Nhưng nếu nhìn từ nguyên nhân sâu xa, tuy Vũ đế có chịu ảnh hưởng sự khích động của Vệ Nguyên Tung và Trương Tân, nhưng ông ta là quân chủ một nước, với mục đích kiến lập đại nghiệp thống nhất, nhất định phải tôn trọng Nho giáo làm chánh thống. Vì tư tưởng Nho gia không chỉ có thể lập nền móng thống trị cho đế quyền phong kiến, mà còn là công cụ đắc lực giúp cho xã hội phong kiến có trật tự. Vũ đế xuất thân từ bộ tộc thiểu số Tiên Ti, lấy việc thống nhất thiên hạ làm nhiệm vụ. Chẳng cho mình là rợ Hồ mà tự xưng mình thuộc dân tộc Hoa Hạ. Như thế ông ta cảm thấy cần phải dùng tư tưởng Nho gia làm chánh thống.

Ban dịch thuật Pháp Âm

Nguồn: Thư Viện GĐPT Online

————
Còn tiếp phần II…

2989 lượt xem