Tượng Bồ Tát Thích Quảng Đức tại chùa Long Sơn – Khánh Hòa
Năm 1963, công cuộc vận động đòi bình đẳng tôn giáo và công bằng xã hội của Phật Giáo Việt Nam – trong đó có Gia Đình Phật Tử Việt Nam. Oanh Vũ Đặng Văn Công cùng một số Oanh Vũ khác đã bị tàn sát tại Đài Phát Thanh Huế. Đoàn Sinh Quách Thị Trang bị bắn chết tại bùng binh chợ Bến Thành, Sài Gòn…
Sự nằm xuống của các Đoàn Sinh GĐPT đã góp phần nhỏ của mình làm cháy bùng ngọn lửa đấu tranh đòi quyền bình đẳng tôn giáo trong mọi tầng lớp đồng bào cả nước. Trong biến cố lịch sử mùa Pháp nạn 1963, GĐPT tỉnh Khánh Hòa cũng đã đóng góp một phần tâm huyết và công sức trong việc bảo vệ tự do tín ngưởng và tinh thần dân tộc. Sự hy sinh cao cả của Huynh Trưởng, Đoàn Sinh đã dùng thân xác mình thắp lên những ngọn đuốc dũng lực, từ bi để cảnh tỉnh nhà đương cuộc.
Trong số các vị Thánh Tử Đạo hy sinh cho đạo pháp và dân tộc trong các mùa Pháp Nạn lúc bấy giờ, có 5 vị xuất thân tại Khánh Hòa:
1- Hòa Thượng Thích Quảng Đức, tự thiêu ngày 11-6-1963 tại ngã tư Phan Đình Phùng-Lê Văn Duyệt, Sài Gòn.
2- Ni Cô Thích Nữ Diệu Quang, 27 tuổi, nguyên Đoàn Sinh GĐPT Thiện Đạo, tự thiêu ngày 15-8-1963 tại Ninh Hòa.
3- Nữ Huynh Trưởng Nguyên – Thường Đào Thị Yến Phi, GĐPT Chánh Quang, tự thiêu ngày 26-1-1965 trước Tòa Hành Chánh Tỉnh Khánh Hòa.
4- Ni Cô Thích Nữ Diệu Tri, 27 tuổi, tự thiêu ngày 4.6.1966 tại Ni Viện Diệu Quang, Nha Trang.
5- Ni Cô Thích Nữ Thông Huệ 30 tuổi, tự thiêu ngày 1.11.1967 sau chùa Tỉnh Hội Nha Trang.
TIỂU SỬ BỒ TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨC:

Ngài sinh năm 1897, tại làng Hội Khánh, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, Trung Việt; tên đời Lâm Văn Tuất, pháp danh Thị Thủy, pháp tự Hành Pháp, pháp hiệu Quảng Đức.
Lên 7 tuổi, Ngài được song thân cho xuất gia học đạo, thọ giáo với Hòa Thượng Thích Hoằng Thăm. Năm 15 tuổi, Ngài thọ giới Sa Di, năm 20 tuổi thọ giới Tỳ Kheo và Bồ Tát. Sau khi thọ giới, Ngài ở tu 3 năm tại núi Ninh Hòa. Sau đó, Ngài tu hạnh Đầu Đà, một mình với chiếc bình bát đi hóa đạo khắp nơi rồi về nhập thất tại chùa Thiên Ân, Ninh Hòa, Nha Trang.
II – THỜI KỲ TRUNG NIÊN
Năm 1932, chi hội An Nam Phật Học tại tỉnh Ninh Hòa, thỉnh Ngài làm Chứng Minh Đạo Sư. Và Giáo Hội Tăng già Trung Việt mời Ngài làm chức Kiểm Tăng ở tỉnh Khánh Hòa. Trong thời gian hành đạo ở miền Trung, Ngài đã kiến tạo và trùng tu được 14 ngôi chùa.
Năm 1943, Ngài vào Nam đi hóa đạo các tỉnh Sài gòn, Gia Định, Bà Rịa, Long Khánh, Định Tường, Hà Tiên, rồi đến Nam Vang 3 năm nghiên cứu kinh điển chữ pali.
Hai mươi năm hành đạo ở miền Nam, Ngài đã khai sơn và trùng tu được 17 ngôi chùa. Như thế là Ngài đã có công trùng tu và khai sơn tất cả 31 ngôi chùa. Ngài thường ở chùa Long Vĩnh, nên được người đời gọi là Hòa Thượng Long Vĩnh.
III – THỜI KỲ LÃO THÀNH
Năm 1953, Giáo Hội Tăng già Nam Việt mời Ngài làm Trưởng Ban Nghi Lễ. Và theo lời thỉnh cầu của hội Phật Học Nam Việt, Ngài nhận làm chủ trì chùa Phước Hòa (Bàn Cờ), trụ sở của Hội.
Đến năm 1963, vì thấy Phật Giáo lâm nguy, Ngài phát nguyện thiêu thân để cứu nguy cho Dân tộc và Đạo pháp.
IV – THỜI KỲ SẮP VIÊN TỊCH
Ngày 20.4 nhuần năm Quý Mão (11.6.1963), sau buổi lễ cầu siêu tại chùa Phật Bửu, hàng ngàn Tăng Ni đang diễn hành trên các đường phố để đòi chính phủ thực thi 5 nguyện vọng chân chính của Phật Giáo và đòi phải chấm dứt chính sách kỳ thị tôn giáo. Khi đến ngã tư đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt, Ngài từ trên xe ung dung bước xuống, đến ngồi kiết già tại giữa ngã tư, rồi tự tay mình quẹt lửa châm vào y hậu. Sau khi ngọn lửa bắt xăng bốc cháy cao phủ kín cả thân người trên 15 phút, Ngài vẫn ngồi kiết già lưng thẳng như tượng đồng đen, tay còn bắt ấn Tam Muội. Đến lúc lửa hạ ngọn, Ngài gật đầu 3 lần như cúi chào vĩnh biệt, rồi ngã ngửa xuống mặt đường.
Trước giờ thị tịch, Ngài thốt ra những lời tâm huyết: “Trước khi tôi nhắm mắt về cảnh Phật, tôi trân trọng gởi lời cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nên lấy lòng Từ Bi, Bác Ái mà đối xử với quốc dân và thi hành chính sách bình đẳng tôn giáo, để giữ vững nước nhà muôn thuở”. Và không quên nhắn nhủ Tăng Ni và Phật Tử: “Tôi thiết tha kêu gọi chư Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng Ni và Phật Tử nên đoàn kết nhất trí, hy sinh để bảo tồn Phật Pháp”.
Kim thân của Bồ Tát Quảng Đức quàn lại chùa Xá Lợi 5 ngày. Đến ngày 16.6.1963, tất cả Tăng Ni trong Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo cùng quý Tăng, Ni, tín đồ Phật Tử đưa di thể Ngài về An Dưỡng Địa, cử hành trọng thể lễ Trà Tỳ.
Sau khi hỏa thiêu suốt ngày, xương thịt đều tiêu hết nhưng trái tim Bồ Tát vẫn còn nguyên, mặc dù đã thiêu bằng lửa điện trên 6 tiếng đồng hồ. Sau đó trái tim Bồ Tát được tôn thờ tại chùa Ấn Quang, Sài Gòn trong thời kỳ đầu.
TIỂU SỬ NI CÔ THÍCH NỮ DIỆU QUANG:
Ni Cô Thích Nữ Diệu Quang tục danh là Ngô Thị Thu Minh, tự Minh Nguyệt, sinh ngày 11.1.1936, tại xã Phù Cát, quận Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên và nơi đây cũng là chánh quán. Thân phụ là ông Ngô Đình Hòe và thân mẫu là bà Nguyễn Thị Nghĩa. Gia đình của Ni Cô hiện cư trú tại Nha Trang.
Sinh trưởng trong một gia đình nề nếp gia phong, thuở thiếu thời Ni Cô đã là một người chị gương mẫu trong gia đình (Cô là con thứ 2, chị đầu của Ni Cô là tu sĩ Huệ Thành hiện tu tại chùa Từ Nghiêm, Sài gòn), Ni Cô vốn xuất thân là Đoàn Sinh Gia Đình Phật Tử Thiện Đạo, Nha Trang.
Nhận thấy cuộc đời là giả tạm, năm 21 tuổi, Cô đã cắt ái từ thân, mở đầu cuộc hành trình đi tìm đạo pháp. Thấu được lòng thành khẩn của Cô, Ni Sư Thích Nữ Như Hoa, trụ trì chùa Vạn Thạnh ở Nha Trang đã thâu nhận Cô làm đệ tử. Với tinh thần quyết chí tu học và nhờ trợ duyên ngoại điển, học xong ban trung học Cô được thọ giới Sa Di Ni năm 21 tuổi và được theo học các lớp nội điển tại Phật Học Viện Nha Trang.
Năm 26 tuổi, Ni Cô được thọ giới Thức Xoa Ma Na. Để đóng góp phần nào vào công việc xây dựng thế hệ mai sau và thể hiện được tinh thần lợi tha của Phật pháp, Ni Cô đã phát tâm theo dạy các lớp sơ học Thiện Tài miễn phí do Tỉnh Giáo Hội Khánh Hòa quản trị.
Đến năm 1963, Ni Cô được 27 tuổi, vì thấy đạo pháp lâm nguy nên tự mình tẩm xăng tự thiêu, để cảnh tỉnh sự mê muội của chính phủ nhà Ngô đương thời và cứu nguy cho Đạo pháp. Ni Cô đã tự thiêu vào lúc 8 giờ 30 ngày 26.6 năm Quý Mão, tức ngày 15.8.1963, tại cạnh trường Hòa Xuyên, (trước đường lên ga xe lửa Ninh Hòa, gần văn phòng quận Ninh Hòa), tỉnh Khánh Hòa.
Ngọn đuốc Diệu Quang là ngọn đuốc thứ tư của Pháp nạn 1963.
TIỂU SỬ NỮ HUYNH TRƯỞNG GĐPTVN NGUYÊN THƯỜNG ĐÀO THỊ YẾN PHI:
Tên thật là Đào Thị Yến Phi, pháp danh Nguyên Thường, tự Diệu Mai; sinh ngày 6 tháng giêng năm 1948 tại Hà Đông (Bắc Việt); thân phụ của Phi là cụ Đào Trọng Bình và thân mẫu là bà Lê Thị Vượng. Vì thân phụ đi xa và mất liên lạc đã lâu, nên Phi sống với mẹ từ thuở lên mười. Gia đình chỉ có hai mẹ con sống đùm bọc lấy nhau. Mẹ Phi cũng như Phi đều là Phật Tử thuần thành. Phi rất ngoan, có hiếu với mẹ, luôn luôn cố gắng giúp đỡ mẹ và không hề đễ mẹ buồn lòng vì mình.
Phi được mẹ cho gia nhập GĐPT Linh Thứu từ năm 1958 với tư cách một Đoàn Sinh Oanh Vũ và được chuyển lên ngành Thiếu năm 1961, chính thức thọ tam quy – ngũ giới ngày Phật Đản 1962. Yến Phi đã trúng cách trại huấn luyện Đội Chúng Trưởng "THẦN HỘI" năm 1962 và trại huấn luyện Huynh Trưởng sơ cấp Lộc Uyển năm 1964, sau đó về sinh hoạt tại GĐPT Chánh Quang và được đề cử đảm nhiệm chức vụ Huynh Trưởng thực thụ tại đơn vị với tư cách Đoàn Phó Oanh Vũ Nữ. Với bản tính hiền hòa, lại được hấp thụ tinh thần BI TRÍ DŨNG của đạo Phật, Yến Phi luôn tỏ ra là một Phật Tử gương mẫu, được mọi người cảm mến. Phi lại còn là một Phật Tử cương trực và quả cảm, luôn tôn trọng lời hứa của cá nhân cũng như đoàn thể. Mặc dù ít nói, nhưng khi đã nói là làm, dù phải hy sinh đến tính mạng. Đó là đức tính tốt đẹp, chói sáng của một Phật Tử thuần thành, chân chính mà chúng ta tìm thấy nơi Yến Phi.
Đức tính đó được thể hiện một cách trung thực qua sự hy sinh cao đẹp và anh dũng của Yến Phi: Tự thiêu thân mình vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 26-1-1965, nhằm ngày 24 tháng chạp năm Giáp Thìn trước Tòa Hành Chánh Tỉnh Khánh Hòa (cũng là địa điểm tuyệt thực của Tăng Ni và Phật Giáo Đồ). Lúc đó, Phi cùng bạn bè đang ngồi tuyệt thực. Sau khi Yến Phi xin ra ngoài có việc riêng đã tự tay tưới xăng vào mình, châm lửa đốt cháy nhục thân thì mọi người mới biết. Nhưng muộn quá rồi! Không ai cứu Phi được nửa. Và trong cơn xúc động, mọi người ngã mình xuống trước hình ảnh anh dũng của Phi trong niềm xúc cảm nghẹn ngào.
Thế là Phi đã mất. Xác thân Nữ Huynh Trưởng GĐPTVN Nguyên Thường ĐÀO THỊ YẾN PHI đã hiến dâng trọn vẹn cho tự do, dân chủ, đạo pháp và dân tộc. Trước khi nhắm mắt Yến Phi để lại 3 bức thư:
Bức tâm thư cho mẹ trong đó có đoạn viết: "Con tin rằng việc làm của con ngày hôm nay giúp ít nhiều cho đạo pháp. Mẹ đừng vì con mà tiếc thương bi lụy, con không mất và sẽ còn mãi mãi với nguyện vọng dân tộc… Nợ đời, nợ đạo con chọn một, chỉ có giáo lý đức Phật mới trường tồn mãi… Mẹ tha tội cho con…".
Bức thư thứ hai gởi cho quý Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng Ni và Phật Giáo Đồ, Phi viết: "Con, một Huynh Trưởng của GĐPT Chánh Quang, xin âm thầm phát nguyện thiêu đốt nhục thân đễ cúng dường Tam Bảo và để cầu cho quốc thái dân an, cho quý Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng Ni pháp thể khương an. Cầu nguyện cho Phật Giáo Đồ dư sức, thừa nghị lực để tranh đấu".
Và với bức thư cho Thủ Tướng Trần Văn Hương, Phi nói lên lời tâm huyết "Mong chính quyền sớm giác tĩnh và giải quyết các nguyện vọng của Phật Giáo".
Nhà thơ Mai Khắc Huy lúc đó (1971) xúc động viết về ngon lửa YẾN PHI:
Bên biển đông thét gào sóng dậy
Bổng bừng lên ánh lửa oai hùng
Lửa Từ Bi rực sáng trời Đông
Trong huyết quản máu hồng ngưng chảy
Lửa Yến Phi bừng cháy
Thiêu đốt xác phàm nhân
Trăm ngàn người gục lạy
Nước mắt tràn đau thương
Hiến thân dâng ánh lửa thiêng
Báo ân Tam bảo, xây nền Tự do..
Quyết đem xương máu điểm tô
Đạo vàng,dân tộc, bóng cờ Việt Nam
Lửa thiêng bừng sáng
Muôn ánh huy hoàng
Đẹp mầu đất nước quê hương
Đẹp tình nhân loại muôn phương một nhà
Ánh lửa reo ca
Nhạc tình nhân ái
Lửa yến Phi xây tình thương quảng đại
Kết vạn tâm hồn nhân loại thương nhau
Đứng lên bảo vệ Đạo mầu
Niềm tin bền giữ không cầu lợi danh
Muôn lời cương quyết đấu tranh
Đạo vàng-Dân tộc an bình mới thôi
Mầm đấu tranh Phi tung nghìn vạn mớ
Hoa tự do theo gió rãi muôn phương
Dẫu hôm nay Phi tạm nghỉ dừng chân
Hoa Dân tộc đã nở bừng muôn hướng
Phải, chính sự hy sinh vô úy của Yến Phi một lần nữa, đã làm rạng rỡ đạo pháp và đặt cao ngôi vị Thánh Yến Phi, như lời Phi đã nói: "Phi sẽ không bao giờ mất, Phi sẽ sống mãi trong lòng đạo pháp và dân tộc". Hình ảnh của Phi trong bể lửa DŨNG do chính tự tay Phi đốt sẽ mãi mãi là một hình ảnh sống động trong mỗi tâm hồn nhân loại đang chịu ơn Phi. Bởi:
Nha Trang thơ mộng
Đây chính là nơi
Lửa Yến Phi sáng ngời
Đốt tan bạo lực
Quét sạch bạo quyền
Oai linh thay, ánh lửa thiêng
Muôn đời dân tộc xin nguyền nhớ ơn.
( Mai Khắc Huy).
Giờ đây, hằng năm vào ngày 24 tháng chạp âm lịch, Phật Tử Việt Nam sẽ nhắc đến Phi và sẽ sống lại những phút thiêng liêng anh dũng mà nữ Huynh Trưởng Diệu Mai, Nguyên Thường ĐÀO THỊ YẾN PHI đã trao cho họ và ngự trị trong tâm hồn mọi người…
TIỂU SỬ NI CÔ THÍCH NỮ DIỆU TRI:
Ni Cô Thích Nữ Diệu Tri, 27 tuổi, tục danh là Lê Thị Hiếu, pháp danh Tâm Lương, sinh ngày 1.1.1939 tại làng Phước Mỹ, quận Triệu Phong tỉnh Quảng Trị. Thân phụ là ông Lê Văn Phò và thân mẫu là bà Ngô Thị Thí. Cô sinh trưởng trong một gia đình Phật Giáo thuần thành nên từ nhỏ đã tỏ ra rất hiền hòa, hiếu thuận. Thân phụ mất sớm khi Cô lên 9 tuổi. Hấp thụ sâu đậm tinh thần Phật Giáo, Cô đã có ý nguyện xuất gia từ thuở ấu thơ nhưng không được sự chấp thuận của gia đình.
Năm 1945, tức năm lên 6 tuổi, Cô gia nhập Gia Đình Phật Tử. Với tinh thần sinh hoạt hăng say và là một Phật Tử có nhiều khả năng đặc biệt nên năm 1961, Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Tử Quảng Trị đã đề cử Cô đảm nhiệm chức vụ Uỷ Viên Oanh Vũ Nữ.
Năm 1963, tức năm 24 tuổi, Cô đã chính thức thí phát quy y vào ngày 12.4.1963 tại chùa Diệu Ấn, Phan Rang và sau đó được đưa vào tu học tại Ni Viện Diệu Quang, Nha Trang. Bổn Sư của Ni Cô là Sư Bà Đàm Hương. Ni Cô thọ giới Sa Di Ni ngày 6.4.1965.
Ngoài việc tu học, hằng ngày Ni Cô còn đảm trách việc giáo dục con em tại Trường Mẫu Giáo Kiều Đàm, đặt tại khuôn viên Ni Viện Diệu Quang, một cơ sở văn hóa – giáo dục của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Khánh Hòa.
Năm 1966, nhận thấy tình trạng đau buồn của đất nước và đạo pháp, Ni Cô đã phát nguyện tự thiêu vào lúc 2 giờ sáng ngày 4.6.1966, tức là ngày 16.4 năm Bính Ngọ trước đài Quán Thế Âm, tại Ni Viện Diệu Quang, nơi Ni Cô tu học.
Với ý nguyện chân thành, Ni Cô đã để lại 2 bức thư gởi cho Giáo Hội và Chính Phủ thật thiết tha với đạo pháp.
TIỂU SỬ SƯ CÔ THÍCH NỮ THÔNG HUỆ:
Ni Cô Thích Nữ Thông Huệ tục danh là Nguyễn Thị Lộc Đài, pháp danh Hạnh Phước, Pháp tự Thông Huệ, sinh ngày 3.4.1937 tại quận Bồng Sơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là ông Nguyễn Văn Sinh và thân mẫu là bà Trần Thị Bảy. Cô sinh trưởng trong một gia đình lễ giáo, thấm nhuần tinh thần Phật Pháp. Từ thuở nhỏ Cô đã là một người con hiếu thuận, một nữ sinh gương mẫu và là một Phật Tử thuần thành chân chính.
Tuy là người con gái độc nhất trong gia đình, mẹ mất sớm, Cô phải lo lắng mọi việc trong gia đình nhưng Cô vẫn không từ bỏ việc học và tham gia phong trào Gia Đình Phật Tử. Trước khi xuất gia tiến bước trên con đường đạo nghiệp, Cô đã là một chị Trưởng có khả năng và rất nhiều tâm huyết phục vụ cho tổ chức Gia Đình Phật Tử.
Năm 14 tuổi, Cô quy y với ngài Huyền Ân tại chùa Hội Quang, quận Bồng Sơn, tỉnh Bình Định. Nhờ thâm nhập tinh thần Phật Pháp, Ni Cô đã xin phép thân phụ xuất gia vào năm 18 tuổi và vào Nha Trang thọ giới với Ni Sư Thích Nữ Tâm Đăng ở chùa Linh Sơn Cầu Đá.
Sau 5 năm tu học, năm 23 tuổi, Ni Cô thọ giới Sa Di Ni và được Bổn Sư cho vào tu học tại Ni Viện Từ Nghiêm. Với sự tu học tinh tấn và có nhiều khả năng đặc biệt, Ni Cô được thọ Thức Xoa Ma Na giới tại Ni Viện Từ Nghiêm, Sài Gòn.
Pháp nạn năm 1963, trước sự thống khổ của tín đồ và sự nguy ngập của đạo pháp, Ni Cô đã xin phát nguyện tự thiêu nhưng ý nguyện không thành vì Bổn Sư không chấp thuận.
Pháp nạn năm 1967, để cảnh tỉnh những lầm đường và ngoan cố, Ni Cô đã châm lửa tự thiêu vào lúc 19 giờ 20 phút ngày 1.11.1967, tức là ngày 29.9 năm Đinh Mùi bên cạnh chùa Tỉnh Giáo Hội Khánh Hòa, trên đường lên Kim Thân Phật Tổ.
Đài tưởng niệm Thánh Tử Đạo Thích Nữ Diệu Quang
TÂM KIM
1233 lượt xem
Tin khác
Kính bạch Chư tôn đức. Kính thưa anh chị em Đoàn viên GĐPT cùng Quý độc giả. Nhân dịp Kỷ niệm 75 năm thống nhất danh xưng Gia Đình Phật…
THÔNG ĐIỆP VESAK 2026 [ĐẠI LỄ TAM HỢP PL.2570] CỦA TỔNG THƯ KÝ LIÊN HIỆP QUỐC ANTÓNIO GUTERRES Nhân Đại lễ Vesak, hàng triệu Phật tử trên khắp thế giới…

