Gia Đình Phật Tử Việt Nam
Những điểm son trong dòng chảy lịch sử của Đạo pháp và Dân tộc

(Bài viết của Hòa Thượng Thích Thái Hòa cho GĐPT Ninh Thuận nhân Kỷ niệm 75 năm danh xưng chính thức GĐPTVN)

oOo

*Từ bối cảnh lịch sử đến vai trò của Đoàn Đồng Ấu Phật Tử

Bối cảnh của quê hương Việt Nam, sau khi ký Hòa ước Nhâm Tuất vào ngày 5 tháng 6 năm 1862 dưới triều Tự Đức – vua Dực Tông trị vì, do Chánh sứ Phan Thanh Giản và Phó sứ Lâm Duy Hiệp ký với Thiếu tướng Phó đô đốc nước Pháp là Bonard và Đại tá Guttierez, chỉ huy quân đội viễn chinh Tây Ban Nha, trên con tàu Duy-pơ-rơ ở sông Sài Gòn. Hòa ước này mở đầu cho một trang sử đau buồn của đất nước dưới sự đô hộ của đế quốc Pháp và sự tự tung, tự tác của các nhà truyền giáo Cơ đốc Tây Ban Nha.

Đọc Hòa ước ấy, Khoản 2 ta thấy: “Thần dân hai nước Pháp và Tây Ban Nha được hành đạo Gia-tô ở nước Đại Nam, và bất luận người nước Đại Nam ai muốn theo đạo Gia-tô đều sẽ được tự do theo, nhưng những người không muốn theo đạo Gia-tô thì không được ép họ theo”.

Và Khoản 3: “Chủ quyền trọn ba tỉnh là tỉnh Biên Hòa, tỉnh Gia Định và tỉnh Định Tường, cũng như đảo Côn Lôn, do Hiệp ước này, được hoàn toàn nhượng cho Hoàng đế nước Pháp. Ngoài ra, các thương gia Pháp được tự do buôn bán và đi lại bằng bất cứ tàu bè nào trên sông lớn của xứ Cam Bốt và trên tất cả các chi lưu của con sông này; các tàu binh Pháp được phép đi xem xét trên con sông này hay trên các chi lưu của nó cũng được tự do như vậy”.

Và đọc kỹ các khoản của Hòa ước Nhâm Tuất, ta thấy đều là gây thiệt hại cho quê hương Việt Nam và hợp thức hóa sự xâm lăng của thực dân Pháp, cũng như các nhà truyền giáo Cơ đốc đối với quê hương Việt Nam.

Sự bức hại đối với quê hương Việt Nam của thực dân Pháp và các nhà truyền giáo Cơ đốc, không dừng lại ở nơi Hòa ước 1862 này, mà còn tiếp theo với Hiệp ước Giáp Tuất 1874, bản hiệp định thứ hai ký kết giữa triều Tự Đức và nước Pháp vào ngày 15 tháng 3 năm 1874 giữa đại diện của triều Nguyễn là Lê Tuấn, Chánh sứ toàn quyền đại thần; Nguyễn Văn Tường, Phó sứ toàn quyền đại thần và đại diện của nước Pháp là Paul-Louis-Félix Philastre, Toàn quyền đại thần, Thống đốc Nam Kỳ. Hiệp ước này có 22 điều khoản, với nội dung chính là thay thế bản Hòa ước Nhâm Tuất 1862. Đây là bản hiệp ước công nhận chủ quyền vĩnh viễn của Pháp ở Nam Kỳ; An Nam lệ thuộc về chủ quyền ngoại giao của Pháp; Pháp tự do buôn bán tại các cảng biển và trên sông Hồng, và đạo Gia-tô tự do truyền bá trên đất nước An Nam, các nhà truyền giáo được nhập cảnh và xuất cảnh tự do không cần có chiếu khán của bộ Lễ. Khi đọc điều 9 trong Hiệp ước Giáp Tuất ta thấy rõ điều này.

Điều 9: “Nhận biết rằng, đạo Gia-tô truyền dạy con người theo đàng lành, Hoàng thượng đức vua từ bỏ và chống lại mọi sự ngăn cấm, nhằm mục đích chống đạo này và cho phép thần dân của Hoàng thượng theo đạo và truyền đạo một cách tự do.

Vì vậy, những tín đồ Gia-tô giáo của vương quốc An Nam sẽ có thể tụ hội tại các nhà thờ với một số lượng có giới hạn để hành lễ đọc kinh. Các tín đồ sẽ không bị ép buộc dưới bất cứ một lý do nào, để phải thi hành những điều trái với đạo giáo của họ, hoặc là phải chịu một sự kiểm tra đặc biệt nào. Họ sẽ được tham dự các kỳ thi tuyển và làm việc nơi các công sở mà không vì thế phải thi hành bất cứ một điều gì mà đạo cấm đoán.

Hoàng thượng thỏa thuận bãi bỏ việc đăng ký tình trạng phân bổ số tín hữu Gia-tô đã được thi hành từ 15 năm trước đây, và sẽ được đối xử giống như những thần dân khác trong vấn đề kiểm kê dân số và thuế má. Hoàng thượng cũng thỏa thuận xét lại vấn đề quốc phòng một cách khôn khéo trong cách dùng văn tự hay ngôn ngữ, những lời lẽ va chạm tôn giáo, và sửa đổi các điều khoản nào trong bản Thập Điều có dùng những lời lẽ va chạm như thế.

Những giáo sĩ giám mục và các người thừa sai có thể nhập cảnh tự do vào vương quốc và lui tới các địa phận truyền giáo của họ với một giấy thông hành do Thống đốc Nam Kỳ, Hạ ban cấp, được thay chiếu khán bởi thượng thơ bộ Lễ hay của Tổng đốc tỉnh thành. Họ có thể thuyết giảng mọi nơi các giáo điều của đạo Gia-tô. Họ không phải bị đặt dưới một sự giám sát đặc biệt nào và các làng mạc cũng không còn phải bắt buộc báo trình lên chức quan của triều đình về việc tới lui và sự hiện diện của họ.

Các hàng giáo sĩ người An Nam sẽ được hành đạo một cách tự do giống như những người thừa sai bề trên của họ. Nếu hạnh kiểm của họ đáng quở trách và nếu theo luật pháp hiện hành mà tội phạm của họ được xếp vào hàng khinh tội bị phạt bằng trượng hay bằng roi, thì hình phạt trượng hay roi sẽ được cải giảm bằng một hình phạt tương đương.

Các hàng giáo sĩ giám mục, các người của hội thừa sai, các linh mục người An Nam sẽ được quyền mua, thuê đất đai và nhà cửa, xây cất nhà thờ, bệnh xá, trường học, nhà mồ côi và tất cả những tiện nghi khác để dùng trong việc phụng vụ tôn giáo của họ.

Tài sản do họ tạo dựng để phụng vụ tôn giáo hiện đang bị sái pháp sẽ được trao trả lại cho họ.

Tất cả những điều kê khai ở trên nếu không có ngoại lệ thì cũng áp dụng cho những người thuộc hội thừa sai Tây Ban Nha.

Sau khi Hòa ước được hai bên chuẩn phê, đức vua sẽ ban một dụ chỉ truyền rao khắp công chúng rằng, quyền tự do đã được hoàng thượng ban cho các tín đồ Gia-tô của vương quốc”.

Bấy giờ, đất nước mất chủ quyền, việc triều chính chỉ là bù nhìn, nên năm 1866, Đoàn Trưng, Đoàn Trực, Đoàn Hữu Ái và nhà sư Nguyễn Văn Quý, trú trì chùa Long Quang và chùa Pháp Vân (chùa Khoai ở Lịch Đợi), và các nhà sư Nguyễn Văn Viên, Nguyễn Văn Lý, các quan như Tôn Thất Cúc (Hữu quân), Tôn Thất Giác (Vệ úy), Lê Chí Trực (Đội trưởng), Lê Văn Cơ (Đội trưởng),… đã dấy quân khởi nghĩa.

Tuy cuộc khởi nghĩa vệ quốc an dân của Đoàn Trưng, Đoàn Trực… năm 1866 không thành, nhưng đã nói lên tinh thần yêu nước của các bậc Tăng sĩ, Sĩ phu, Quan lại và nhân dân ở thời kỳ bấy giờ.

Ở thời kỳ này, tại kinh đô Huế có nhiều bậc cao Tăng xuất hiện như các ngài Hải Thuận – Lương Duyên (1806-1895), trú trì chùa Báo Quốc; Hải Thiệu – Cương Kỷ (1810-1899), trú trì chùa Từ Hiếu; Hải Toàn – Linh Cơ (1823-1896), trú trì chùa Tường Vân… đã chứng kiến, cảnh khuynh đảo quyền hành đối với triều Nguyễn, trước và sau khi vua Dực Tông băng hà vào ngày 19 tháng 7 năm 1883, của đế quốc Pháp và các giáo sĩ Thiên Chúa.

Lại nữa, các bậc Tăng sĩ, Sĩ phu, Quan lại và nhân dân chứng kiến cảnh bi đát, hỗn độn, sau khi vua Dực Tông băng hà, triều đình Huế bấy giờ diễn ra cái cảnh: “Tứ nguyệt tam vương triệu bất tường”, do bàn tay của những khâm sai nước Pháp khuynh đảo triều đình Huế chỉ đạo dàn dựng cộng với những quan chức bất chính. Rồi cái cảnh vua Hàm Nghi bôn tẩu 1885; vua Thành Thái bị chính quyền Pháp buộc ban chiếu chỉ thoái vị 1907, bị giải vào Sài Gòn giam ở Cap Saint Jacques (Vũng Tàu) và sau đó, bắt đưa lưu đày sang đảo Reunion ở Phi Châu cùng với người con trai là vua Duy Tân vào năm 1916…

Năm 1885, chùa Giác Hoàng ở Đại nội, ngài Tánh Thiên – Nhất Định đã được vua Minh Mạng thỉnh mời làm Tăng Cang, đã bị pháo binh thực dân Pháp chiếm đóng làm doanh trại, tất cả tượng Phật và pháp khí đều chuyển sang thờ ở chùa Diệu Đế vào năm 1903, chùa Giác Hoàng bị Pháp san bằng hoàn toàn để xây dưng Cơ mật viện. Đối với Phật giáo, Pháp tiến hành chính sách phá hủy chùa chiền, khống chế và hũ hóa hàng Tăng sĩ, họ lập ra Phật giáo Thuyền Lữ để làm thừa sai tôn giáo khiến Phật giáo bị khuynh đảo. Đất nước vào giai đoạn này, chìm vào trong đêm dài tăm tối, nô lệ mất hết chủ quyền.

Chứng kiến những nỗi đau biến thiên lịch sử của Dân tộc và Đạo pháp như thế, các ngài Hải Thuận – Lương Duyên; Hải Thiệu – Cương Kỷ; Hải Toàn – Linh Cơ và chư tôn đức Tăng Nam kỳ và Bắc kỳ bấy giờ đã dốc hết tâm trí giữ gìn nguồn đạo, nuôi dạy học trò, nên đã có những thế hệ tiếp nối mà cụ thể ở đất Thuận Hóa đã có các ngài như: Thanh Ninh – Tâm Tịnh (1868-1928) chùa Tây Thiên; Thanh Thái – Huệ Minh (1861-1939) chùa Từ Hiếu; Thanh Tú – Huệ Pháp (1871-1927) chùa Thiên Hưng; Thanh Thái – Phước Chỉ, chùa Tường Vân; Trừng Thông – Viên Thành (1879-1928); chùa Tra Am, Như Thông – Đắc Ân (1873-1834) chùa Quốc Ân,…

Bấy giờ ngài Thanh Tú – Huệ Pháp đã mở trường Phật học dạy cho Tăng Ni tại chùa Thiên Hưng – Huế, đào tạo Tăng tài duy trì mạng mạch Phật giáo. Trong khóa học ấy, có những vị Tăng xuất chúng như các ngài: Giác Tiên, Giác Viên, Giác Nhiên, Tịnh Hạnh, Tịnh Khiết… Ni giới gồm có Sư cụ Diệu Hương, khai sơn chùa Diệu Đức – Huế; sư cụ Hướng Đạo khai sơn chùa Diệu Viên… Đặc biệt Hòa thượng Thích Giác Tiên, chùa Trúc Lâm, đều đưa học trò của mình đến cùng tham học khóa học này với ngài Huệ Pháp. Ở trường Phật học Thiên Hưng, ngài Huệ Pháp thường răn dạy học chúng: “Quý vị ở trong đời, hãy giữ chí khí bảo vệ chánh pháp, bằng cách nhìn lên thì hãy lo tu tâm, nhìn xuống thì hóa độ mọi loài chúng sanh, làm sao cho tuệ mạng Phật pháp trường tồn” (Thiên Hưng Tự, Giáo Thọ Đại Sư Bi Minh).

Vốn có thông tuệ nhiều đời trong Phật pháp, lại được các bậc Tôn trưởng Thanh Ninh – Tâm Tịnh, Thanh Tú – Huệ Pháp, Trừng Thông – Viên Thành tác thành tuệ học, chí khí cao viễn, nên Hòa thượng Thích Giác Tiên đã trở thành bậc đống lương của Phật pháp trong thời cận đại, khởi động hạnh nguyện đào tạo Tăng tài, tiếp nối hạnh nguyện của ngài Thanh Tú – Huệ Pháp để chấn hưng Phật giáo, khiến chánh pháp trường tồn, ma pháp ẩn diệt, nên vào năm 1930, ngài Hòa thượng Thích Giác Tiên (1880-1936), vị khai sơn chùa Trúc Lâm – Huế, vào chùa Di Đà Thập Tháp – Bình Định, cung thỉnh ngài Hòa thượng Thích Phước Huệ (1869-1945) về Kinh đô Huế làm Đốc giáo, mở trường Phật học đào tạo Tăng tài từ cấp Tiểu học lên Đại học ở các chùa Trúc Lâm, Tây Thiên, Tường Vân, Vạn Phước, Từ Quang. Và năm 1932, thành lập An Nam Phật Học Hội để hoằng dương Phật pháp, cung thỉnh Hòa thượng Thích Phước Huệ làm vị Chứng minh Đại đạo sư của Hội An Nam Phật Học, cùng với các ngài như: Hòa thượng Thích Giác Nguyên, Thích Giác Tiên, Thích Giác Nhiên, Thích Giác Bổn, Thích Giác Hạnh, Thích Tịnh Hạnh, Thích Tịnh Khiết, Thích Đắc Ân, Thích Đắc Quang… đều là những vị Chứng minh Đại đạo sư của Hội An Nam Phật Học. Đối với hàng Cư sĩ, Hòa thượng Thích Giác Tiên đã kêu gọi các nhân sĩ trí thức đứng ra thành lập Hội An Nam Phật Học giao trách nhiệm cho Cư sĩ Tâm Minh – Lê Đình Thám và đã được nhiều nhân sĩ trí thức bấy giờ hết lòng ủng hộ như các cụ: Ưng Bàng, Ưng Bình, Trương Xướng, Nguyễn Đình Hòe, Nguyễn Khoa Tân, Viễn Đệ, Nguyễn Khoa Toàn, Bửu Bác, Trần Đăng Khoa, Lê Thanh Cảnh, Lê Quang Thiết, Tôn Thất Quyên, Nguyễn Xuân Tiếu, Hoàng Xuân Ba, Lê Bá Ý, Tôn Thất Tùng… nhiệt liệt ủng hộ. Hội đã cung thỉnh vua Bảo Đại làm Hội trưởng danh dự.

Trong đám tang của ngài Hòa thượng Thích Đắc Ân, trú trì chùa Quốc Ân, năm 1934 đã có đoàn Phật tử Đồng Ấu mặc áo mã tiên, bưng lư trầm, thủ phất, quạt lông… tham dự trong lễ cung thỉnh kim quan nhập bảo tháp và Đại lễ Phật Đản năm 1935, đoàn rước Phật từ chùa Báo Quốc về chùa Diệu Đế vào chiều tối ngày mồng bảy tháng tư âm lịch, để cử hành Đại lễ Phật Đản chính thức vào ngày mồng tám tháng tư Âm lịch, Tây lịch 1935. trong đoàn rước có Tăng Ni, Phật tử và cũng có đoàn Đồng Ấu Phật Tử là một trong những thành viên chính thức của đoàn rước.

Trước khi đoàn rước khởi hành, vào lúc 19 giờ, tức là 7 giờ tối, ngày mồng 7 tháng 4 Âm lịch, Tây lịch 1935, có Quận công Nguyên Nhiếp Chánh Thân Thần, tuy tuổi già sức yếu cũng đến đảnh lễ Đức Phật tại chùa Báo Quốc, trước khi đoàn rước khởi hành thỉnh Đức Phật về chùa Diệu Đế, để ngày mồng 8 tháng 4 cử hành Đại lễ Phật Đản chính thức.

Như vậy, tên gọi đầu tiên là Đoàn Đồng Ấu Phật Tử và tên gọi này chính thức xuất hiện trong tang lễ của Hòa thượng Thích Đắc Ân, một danh Tăng cận đại, trú trì Tổ đình Quốc Ân – Huế, vào năm 1934 và Đại lễ Phật Đản năm 1935. Nhưng nó đã được thai nghén vào những năm 1929, 1930, 1931 từ Sơn Môn Giáo Hội và nó thực sự nằm trong lòng của Hội An Nam Phật Học, do chư Tôn đức Tăng ở Sơn Môn làm Chứng minh đại đạo sư và do Cư sĩ Bác sĩ: Trừng Bạc – Nguyễn Phước Bửu Bác, Hội viên Hội An Nam Phật Học là người đầu tiên thành lập Ban Phật Tử Đồng Ấu, sinh hoạt ở chùa Phước Điền, gần cầu Đông Ba – Huế, gồm có 52 em. Ban này chia ra có Đội, Chúng, có chương trình tu học cụ thể. Ban Đồng Ấu nam mặc áo dài đen; Đồng Ấu nữ mặc áo dài trắng đi guốc mộc.

Hai mươi sáu Đồng Ấu nam gồm: Bính; Sanh; Cang; Khương Luân; Phụng; Long; Lai; Điệu Nguyện; Điệu Dư; Điệu Khai; Điệu Môn; Điệu Khoa; Ngoạn; Tâm; Vinh Ty; Điệu Cẩm; Vỹ; Bính; Thọ; Túy; Nhân; Chương; Thới; Như; Thảo; Hoa. Hai mươi sáu Đồng Ấu nữ, gồm: Tôn Nữ Thị Mỹ; Hồng Vân; Nguyễn Thị Em; Nguyễn Thị Ban; Nguyễn Thị Gái; Nam; Mộc; Hường; Mẫn Chị; Mẫn Em; Bê; Hảo; Bông; Kỳ; Phước; Thuận; Vầy; Sáo; Na; Nết; Hoa; Giáp; Hân; Hà; Kiều; Trà (tài liệu theo báo Tràng An).

Từ đoàn Phật tử Đồng Ấu này, các Cư sĩ Tâm Minh – Lê Đình Thám, Trương Xướng, Ưng Bàng, Ưng Bình, Bửu Bác, Nguyễn Đình Hòe, Nguyễn Khoa Tân, Lê Quang Thiết, Lê Thanh Cảnh, Tôn Thất Quyên, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Xuân Tiếu, Nguyễn Khoa Toàn… thành lập và phát triển từ thập niên 30, đây là đoàn thể trẻ nhất tham dự trong đoàn rước Phật từ chùa Báo Quốc về chùa Diệu Đế để làm lễ Phật Đản vào năm 1935, với sự tham dự đông đảo Tăng Ni – Phật tử, đồng thời có sự tham dự của Lưỡng Tôn cung và Hoàng thượng; quan Khâm sứ đại thần; Hoàng tử Lào và bốn quan tùy tùng.

Sự xuất hiện của Đoàn Đồng Ấu Phật Tử trong giai đoạn lịch sử chấn hưng Phật giáo này, theo báo Viên Âm có bốn lý do, mà nhà sử học Nguyễn Lang đã trích dẫn và viết ở trong Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, xuất bản 1973:

– “Sự sụp đổ của niềm tin quốc dân nơi những giá trị cổ truyền, do ý thức hệ Nho giáo đại diện đã tạo nên một hoang mang lớn. Nền văn hóa cũ đã suy sụp mà nền văn hóa mới chưa được hình thành, dù đã trải qua năm mươi năm tiếp xúc với Tây phương. Đạo Phật đã chứng tỏ rất thích hợp với tinh thần và ước vọng của người Việt, lại có tính cách dung hợp cởi mở, có thể đóng vai trò dung hợp cũ mới, bảo tồn những giá trị cũ và thu thập những giá trị mới. Vì vậy, xiển dương đạo Phật, tức là xây dựng nền văn hóa dân tộc, vừa tiến bộ, vừa không mất gốc.

– Nền tảng ấy sẽ xác nhận được dân tộc tính Việt Nam, đủ tiêu chuẩn và khả năng hấp thu văn hóa mới Tây phương mà không bị đồng hóa, phân biệt được những gì thích hợp và có lợi ích cho dân tộc và những gì trái chống với sự tồn tại và phát triển của quốc gia, nói một cách khác, có thể “phân biệt chính tà” trong quá trình tiếp nhận và hình thành văn hóa mới.

– Tinh thần Phật giáo rất thích hợp với tinh thần khoa học và tinh thần tự lực tự cường. Khoa học hấp thu được của Tây phương, nếu được đi đôi với đạo học Phật giáo, mới tránh được tác hại trong khi sử dụng.

– Hình thức tôn giáo lễ nghi của Phật giáo lâu nay lưu hành, cũng chỉ là một phần phương tiện nhỏ bé của Phật giáo và phần này không thích hợp với những con người chuộng lý trí và khoa học. Vậy, nên sự phát triển giáo nghĩa cao sâu của Phật giáo để trình bày một nền Phật giáo tân tiến, sống động, đáp ứng được nhu cầu của những thế hệ mới là điều cần thiết”.

Trong Phong trào Chấn hưng Phật giáo, Hòa thượng Thích Thiện Hoa viết: “Sự ra đời của các tổ chức Phật giáo, trong đó có Đoàn Đồng Ấu Phật Tử trong giai đoạn chấn hưng, cũng cùng có mục đích: “Chỉnh đốn thiền môn, vãn hồi quy giới, đào tạo một thế hệ tu sĩ, thanh niên chân chính hữu học và hoằng dương Chánh pháp”.

Phải nói cụ thể là Đoàn Đồng Ấu Phật Tử xuất hiện ở giai đoạn chấn hưng Phật giáo này là nói lên vai trò vệ quốc an dân, trong chiến lược giữ giống, trồng người của tiền nhân chúng ta trước sự suy thoái đạo đức và văn hóa mà ý thức hệ Nho giáo không còn có đủ tiềm năng để độc quyền chống đỡ do sự xâm thực của các ý thức hệ đến từ bên ngoài với sự nỗ lực tối đa để tẩy não nền tâm linh và văn hóa của dân tộc Việt…

Đoàn Phật tử Đồng Ấu xuất hiện ở giai đoạn này là xác nhận hạt giống, nuôi giống, gầy giống và phát triển giống nòi tốt đẹp ấy của các bậc tiền nhân. Vì sao? Vì giống có thuần, người mới chuẩn, dòng họ mới chính thống, Dân tộc mới được giữ gìn bởi mọi từng lớp nhân dân, phong tục mới được thuần hóa, Đạo pháp mới được chấn hưng và xương minh, phận sự Tăng – tục rõ ràng, Đạo – đời minh bạch, khiến đất nước không còn tối tăm, muôn dân không còn lầm lạc, trước khi nhận cái mới mà không bị bứng gốc, duy trì cái cũ mà không bị rơi vào tri kiến cố chấp bảo thủ. Đây là điểm son thứ nhất của tên gọi Gia đình Phật tử Đồng Ấu.

Các em Đồng Ấu trong GĐPHP tại chùa Quán Sứ – Hà Nội
  • Từ Đoàn Đồng Ấu đến Gia Đình Phật Hóa Phổ

Từ khi Đoàn Phật tử Đồng Ấu ra đời, chính thức tham dự lễ rước vào năm 1934 trong tang lễ của Hòa thượng Thích Đắc Ân trú trì Tổ đình Quốc Ân – Huế, đến tham dự chính thức đoàn rước Phật từ chùa Báo Quốc về chùa Diệu Đế vào dịp lễ Phật Đản năm 1935 do Hội An Nam Phật Học tổ chức với sự tham dự của vua Bảo Đại. Và từ tổ chức Đoàn Phật tử Đồng Ấu chính thức ra mắt công chúng vào năm 1934-1935, đến tổ chức các lớp học Đồng Ấu và Đoàn thiếu niên Phật tử tại Huế vào năm 1940-1942 và chính thức thành Tổ chức Gia Đình Phật Hóa Phổ (GĐPHP) qua Đại hội Thanh Thiếu Niên Phật Tử tại đồi Quảng Tế vào năm 1943, các đơn vị hoạt động và lan tỏa các khu vực Thành Nội, Vỹ Dạ, Gia Hội, Nguyệt Biều với các Gia Đình như: Tâm Minh, Tâm Lạc, Thanh Tịnh, Sum Đoàn… tại Huế, dưới sự khởi xướng của Bác sĩ Tâm Minh – Lê Đình Thám và Đoàn Thanh Niên Phật Học Đức Dục.

Bối cảnh lịch sử của đất nước ở giai đoạn 1930 đến 1945 này là giai đoạn mà đất nước Việt Nam chịu đựng sự thống trị khốc liệt của đế quốc Pháp và phát xít Nhật. Vào năm 1940, phát xít Nhật vào Đông Dương, hai nước Pháp và Nhật cấu kết với nhau tạo ra gọng kềm đối với đất nước Việt Nam bấy giờ, khiến đất nước bị chi phối mãnh liệt bởi sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Lại Nhật đảo chánh Pháp vào 9-3-1945, đưa tới sự khủng hoảng quyền lực. Nhật trao trả độc lập cho Việt Nam dưới danh nghĩa “Đế quốc Việt Nam” và cho vua Bảo Đại thành lập Chính phủ. Vào ngày 17-4-1945, vua Bảo Đại thành lập Chính phủ, Trần Trọng Kim làm Thủ tướng (Tổng trưởng), thành phần Nội các là các nhà trí thức, sử học, bác sĩ, luật sư, kỹ sư của xã hội đương thời như:

– Trần Trọng Kim: Thủ tướng.
– Trần Văn Chương: Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại Giao.
– Trần Đình Nam: Bộ trưởng Nội Vụ.
– Trịnh Đình Thảo: Bộ trưởng Tư Pháp.
– Hoàng Xuân Hãn: Bộ trưởng Giáo Dục và Mỹ Nghệ.
– Vũ Văn Hiền: Bộ trưởng Tài Chính.
– Phan Anh: Bộ trưởng Thanh Niên.
– Lưu Văn Lang: Bộ trưởng Công Chính.
– Vũ Ngọc Anh: Bộ trưởng Y Tế.
– Hồ Tá Khanh: Bộ trưởng Kinh Tế.
– Nguyễn Hữu Thi: Bộ trưởng Tiếp Tế.

Nội các của Thủ tướng Trần Trọng Kim chỉ trải qua hơn bốn tháng hoạt động, khi Nhật đầu hàng Đồng minh vào tháng 8-1945, Chính phủ của Trần Trọng Kim xin từ chức, vua Bảo Đại ban chiếu thoái vị, giao quyền lực cho Mặt trận Việt Minh.

Nội các của Trần Trọng Kim đóng vai trò chuyển tiếp Chính quyền từ Nhật sang Việt Nam một cách nhẹ nhàng, ít gây thiệt hại nhân mạng, đây là điểm tích cực và là điểm son của Chính quyền này ở trong giai đoạn lịch sử đất nước xảy ra cuộc cách mạng tháng 8-1945, khi chính quyền Nhật đầu hàng Đồng minh của thế chiến thứ II.

Trong giai đoạn bối cảnh lịch sử này, các Đoàn sinh Phật tử Đồng Ấu đã trải qua mười năm trưởng thành tức từ năm 1935 đến 1945 dưới sự lãnh đạo của chư Tôn đức Tăng và hướng dẫn của các Cư sĩ Trí thức Thanh Niên Đức Dục với đạo tâm kiên cố, đã vượt qua với biết bao nhieu gian truân khó nhọc để bước lên từ danh xưng Đoàn Phật Tử Đồng Ấu đến Gia Đình Phật Hóa Phổ vào năm 1943, trong một Đại hội tại đồi Quảng Tế – Huế, mà không bị các thế lực ngoại nhân chi phối. Đây là một điểm son của tên gọi Gia Đình Phật Hóa Phổ.

Phái đoàn GĐPHP Bắc Việt thăm trại GiaThiện.
  • Từ Gia Đình Phật Hóa Phổ đến Gia Đình Phật Tử Việt Nam

Bối cảnh lịch sử đất nước trong giai đoạn sinh hoạt của Gia Đình Phật Hóa Phổ tiến đến Gia Đình Phật Tử Việt Nam là một bối cảnh vô cùng phức tạp, sự độc lập và bình yên của đất nước như ngàn “cân treo sợi tóc”.

Phức tạp vì: Việt Nam vừa tuyên bố độc lập trong ngày 2-9-1945 với quốc hiệu: Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Nhưng ở thời điểm này, dư tàn của chiến tranh chưa được khắc phục, chính quyền đương thời, phải đối đầu với sự nghèo đói, với trình độ dân trí còn thấp, nên đối với dân, ba việc cần phải làm, như Cụ Phan Chu Trinh chủ trương: “Khai dân trí; Chấn dân khí; Hậu dân sinh”.

Lại nữa, trình trạng dân trí đối với bên trong còn lắm người thân Nhật và Pháp, hay nhu nhược; đối với bên ngoài phải đương đầu với chiến lược thống trị thuộc địa của các nước Tây Âu như: Anh và Pháp đối với các nước thuộc địa của họ ở châu Á như Ấn Độ, Trung Hoa, Sri Lanka, Miến Điện, Việt Nam, Kampuchia, Lào…

Đại chiến thế giới lần thứ II kết thúc vào tháng 8 năm 1945, thì đến ngày 2-9-1945, ở Việt Nam, tại Ba Đình, Hà Nội, cụ Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập, đổi tên nước Việt Nam từ thời vua Bảo Đại thành Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Nhưng, trước sự kiện 2-9-1945, thì từ ngày 17-7 đến 2-8-1945, tại hội nghị ở Posdam ở Đức, những vị lãnh đạo các nước lớn như Anh, Mỹ, Liên Xô đã có những cuộc thảo luận quan trọng liên quan đến chiến tranh thế giới lần thứ II, trong đó có những vấn đề liên hệ đến các nước Đông Dương, như Việt Nam, Kampuchia và Lào.

Theo quyết định của hội nghị, thì quân đội của Trung Hoa Dân Quốc thuộc Quốc Dân Đảng, do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo sẽ vào miền Bắc Việt Nam để giải giáp quân Nhật, từ vĩ tuyến 16 trở ra. Và quân đội Đồng minh thuộc khu vực Đông Nam Á, do Đô đốc Louis Mountbatten của Anh quốc đảm nhiệm vào Nam Việt Nam, từ vĩ tuyến 16 trở vào.

Vào ngày 13-8-1945, Bộ Tổng Tham Mưu quân đội Anh yêu cầu Đô đốc Mountbatten lên kế hoạch và triển khai lực lượng để thực hiện nhiệm vụ kiểm soát tổng hành dinh đạo quân Phương Nam của Nhật tại Sài Gòn; thỏa thuận với Thống chế Terauchi Hisaichi về việc Nhật đầu hàng, sau đó tiến hành giải giáp và hồi hương quân Nhật; phóng thích và hồi hương toàn bộ tù binh Đồng minh bị bắt và giam giữ tại miền Nam Việt Nam.

Bấy giờ chính quyền Anh do Thủ tướng Clement Attlee lãnh đạo suy nghĩ: “Sự thành công đòi hỏi độc lập của các nước Đông Dương sau thế chiến thứ II, có thể là mối kích hoạt các nước thuộc địa của Anh như: Malaysia, Myanmar, India, Sri Lanka… đứng lên đòi hỏi độc lập từ Anh”. Nên vào ngày 24-8-1945, Anh đã ký với Pháp hiệp ước công nhận “chủ quyền” của Pháp ở Đông Dương.

Mục đích của Hiệp ước này là Anh tạo duyên cớ để Pháp trở lại Đông Dương và xâm lăng Việt Nam lần thứ hai, cũng ở nơi sự kiện này, hai nước Anh và Pháp liên kết với nhau để chống Hoa Kỳ, với mục đích duy trì các thuộc địa cũ của hai nước.

Khi quân đội Anh đến Sài Gòn vào ngày 14-9-1945 là sư đoàn Bộ binh của liên quân Anh-Ấn đến Sài Gòn – Nam Việt Nam từ Yangon của Myanmar.

Đêm 22, rạng sáng 23-9-1945, quân đội Pháp nổ súng đánh chiếm trụ sở Ủy ban Hành chính Nam Bộ và Quốc gia Tự vệ cuộc, mở đầu cuộc chiến tranh Đế quốc Pháp xâm lược Việt Nam lần thứ hai.

Ở giai đoạn này, bối cảnh lịch sử Việt Nam vô cùng hỗn loạn, nhân dân Việt Nam bấy giờ tiếp tục đấu tranh tự phát và vào ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân kháng chiến chống Pháp.

Vào mùa Thu – Đông năm 1947, Pháp đã mở ra chiến dịch “Đánh nhanh – Thắng nhanh”, nhưng đã bị quân lực Việt Nam ngăn chặn thành công chiến dịch này.

Trong những thời điểm này, Tổ chức Gia Đình Phật Hóa Phổ vẫn giữ được tinh thần tu học của mình không bị những thế lực chính trị xã hội lôi kéo, mặc dù đây là thời kỳ kháng chiến chống ngoại xâm rất mãnh liệt và có rất nhiều tu sĩ Phật giáo tự động cởi Ca-sa khoác chiến bào xây dựng các chiến khu, liên quân khu chống Pháp.

Năm 1949, Giới đàn Hộ Quốc được kiến lập tại Tổ đình Báo Quốc kinh đô Huế, để “tuyển chọn người làm Phật”, do Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Đàn đầu. Đây là một Giới đàn rất quan trọng, diễn ra trong một giai đoạn lịch sử của đất nước đương đầu với những gọng kềm thuộc địa của các nước như Nhật, Anh, Pháp và Hoa Kỳ từ năm 1945 đến năm 1954.

Năm 1947 (Đinh Hợi), Sơn Môn Tăng Già Trung Việt hình thành để cùng với Hội An Nam Phật Học tuyên dương Chánh pháp trong giai đoạn lịch sử này. Và chính giai đoạn lịch sử này các Khuôn hội Tịnh Độ, các đạo tràng Phật học được tổ chức thành nề nếp, Gia Đình Phật Hóa Phổ được xây dựng và triển khai khắp 17 tỉnh thành ở miền Trung.

Tại Thừa Thiên, Ban Hướng Dẫn Gia đình Đồng Ấu đầu tiên do Đoàn Thanh Niên Đức Dục công cử, gồm: Trưởng ban: anh Tráng Thông. Ủy viên gồm các anh: Tráng Cử; Đinh Văn Nam; Tráng Đinh; Phạm Hữu Bình; Lê Bối.

Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Hóa Phổ đầu tiên tại Thừa Thiên vào năm 1950, gồm: Cố vấn Giáo hạnh: Tỷ-kheo Thích Minh Châu. Trưởng ban: anh Võ Đình Cường. Các ủy viên, gồm các anh: Phan Cảnh Tuân; Lê Văn Lâm; Lê Cao Phan; Mai Quang Hòa; Nguyễn Xuân Quyền. Các chị gồm: Hoàng Thị Kim Cúc; Tôn Nữ Cẩm Nhung. Đây là điểm son thời kỳ phát triển của Gia Đình Phật Hóa Phổ.

Vào ngày 6-5-1951, tại chùa Linh Quang – Huế đã diễn ra Hội nghị thành lập Giáo Hội Tăng Già Trung Việt. Trong giai đoạn lịch sử chấn hưng Phật giáo từ 1930 đến 1951 này của đất nước, tại miền Nam các tổ chức Phật học được thành lập, đại lược như:

Năm 1930, Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học ra đời ở Sài Gòn.

Năm 1934, Hội Phật Học Lưỡng Xuyên được thành lập ở Trà Vinh.

Năm 1937, Hội Phật Học Kiêm Tế thành lập ở Rạch Giá.

Tháng 9 năm 1950, Cư sĩ Mai Thọ Truyền thành lập Hội Phật Học Nam Việt ở Sài Gòn, trụ sở đặt tại chùa Khánh Hưng.

Vào tháng 6 năm 1951, Đại hội tại chùa Hưng Long, Chợ Lớn, Giáo Hội Tăng Già Nam Việt thành lập, do Hòa thượng Thích Đạt Thanh chủ trì, Hòa thượng Thích Nhật Liên làm Tổng thư ký, trụ sở đặt tại chùa Ấn Quang.

Tại miền Bắc các tổ chức Phật giáo được thành lập, đại lược như:

Tháng 11-1934, Hội Phật Giáo Bắc Việt được thành lập, theo quyết định số 4283 của Thống sứ Bắc Kỳ, trụ sở đặt tại chùa Quán Sứ – Hà Nội. Ông Robin, Toàn quyền Đông Pháp, Thống sứ A, làm Hội trưởng danh dự. Cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm Hội trưởng. Suy tôn ngài Thích Thanh Hanh làm Thiền gia Pháp chủ. Mục đích của Hội là “Cốt khuyên rủ nhau, đốc trách nhau hiểu đạo Phật cho rành, làm đạo Phật cho đúng, để tự độ mà độ người”. Hội này cho ra đời tờ báo Tiếng Chuông Sớm vào ngày 15-6-1935.

Năm 1949, Hội Tăng Ni Chỉnh Lý Bắc Việt ra đời, do Hòa thượng Thích Tố Liên sáng lập.

Ngày 9-9-1950, Hội Tăng Ni Chỉnh Lý Bắc Việt thành lập, do Hòa thượng Thích Tố Liên sáng lập, đổi tên thành Hội Phật Giáo Tăng Già Bắc Việt, suy tôn Thiền sư Thích Mật Ứng làm Thiền gia Pháp chủ.

TT. Thích Tố Liên tại Đại Hội Phật Giáo Thế Giới năm 1950

Từ thập niên 1930, phong trào chấn hưng Phật giáo ra đời, nhiều tổ chức Phật giáo được thành lập, để giữ gìn và phát huy Phật giáo trong những điều kiện mà hoàn cảnh xã hội có thể, trong đó có Gia Đình Phật Hóa Phổ. Gia Đình Phật Hóa Phổ đã tổ chức Đại hội thành công vào những ngày 24, 25, 26 tháng 4 năm 1951 tại chùa Từ Đàm – Huế, với chương trình nghị sự như sau:

* Chuyển đổi danh xưng Gia Đình Phật Hóa Phổ thành danh xưng Gia Đình Phật Tử Việt Nam.

* Thông qua bản “Nội quy trình” gồm 5 chương, 15 điều.

* Công cử Ban Hướng Dẫn Trung Ương gồm:

Trưởng ban: Huynh trưởng Võ Đình Cường.
Các thành viên:
– Huynh trưởng Lê Cao Phan.
– Huynh trưởng Lê Mộng Đào.
– Huynh trưởng Phan Cảnh Tuân.
– Huynh trưởng Nguyễn Xuân Quyền.
– Huynh trưởng Hoàng Thị Kim Cúc.
– Cùng một số thành viên khác trong ban điều hành.

  • Từ ba Giáo Hội Tăng Già đến ba Tổ chức Phật học tạo thành Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam

Từ cách mạng tháng 8-45 đến năm 1951, đất nước có quá nhiều biến động chính sự kể từ khi vua Bảo Đại bị áp lực ban chiếu thoái vị và rồi trở lại chính sự với cương vị Quốc trưởng Quốc Gia Việt Nam, trong bối cảnh như vậy, công cuộc vận động thống nhất các tổ chức Phật giáo cả nước đến lúc cần và đủ để thực hiện, nên vào ngày 6-5-1951, có 51 Đại biểu đại diện cho 6 tập đoàn của Phật giáo Trung – Nam – Bắc gồm: Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt; Giáo Hội Tăng Già Trung Việt; Giáo Hội Tăng Già Nam Việt; Hội Phật Giáo Bắc Việt; Hội An Nam Phật Học Trung Việt; Hội Phật Học Nam Việt đại hội tại chùa Từ Đàm – Huế, thống nhất Phật giáo ba miền với danh xưng là Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, Đại hội đã suy cử Hòa thượng Thích Tịnh Khiết ở ngôi vị Hội chủ.

Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam ra đời là thống nhất Phật giáo ba miền Trung-Nam-Bắc, đáp ứng nhu cầu tu học và hoằng pháp đúng với Chánh pháp của Tăng Ni – Phật tử Việt Nam, với vai trò “Hộ quốc an dân, vận động chấm dứt chiến tranh, xây dựng hòa bình cho nhân loại, an lạc cho quần sinh” như nội dung trong bản Tuyên ngôn thông qua của Đại hội: “Bánh xe Phật pháp xoay vần trên khắp quốc độ Việt Nam đến nay đã gần hai mươi thế kỷ. Nhân tâm, phong tục, văn hóa, chính trị trong nước đều đã chịu ảnh hưởng rất sâu xa của Phật giáo. Tăng đồ và Thiện tín từ Bắc vào Nam, một lòng quy ngưỡng Đức Điều Ngự Thích-ca Mâu-ni, sống trong tinh thần từ bi hỷ xả và luôn luôn lo toan xây dựng hòa bình. Nhưng sự đời không hòa nhịp với lòng mong mỏi; hoàn cảnh trước đây đã chia ranh giới ba phần, nên Phật sự cũng phải tùy duyên, mặc dầu Phật pháp vẫn bất biến. Sự tướng mỗi Phần mỗi khác, làm cho mặt bàng quan xem như có điều chia rẽ. Nay cơ duyên thuận tiện, Phật giáo Việt Nam phải được thống nhất. Hơn nữa, họa chiến tranh đang gieo rắc khắp nơi, nhân loại đương lâm vào cảnh lầm than phiền não. Chính là lúc đạo từ bi và vô thượng phải đem nước Cam lộ mà rưới tắt lửa sân si, để xây dựng cảnh hòa bình cho nhân loại”. Và nội dung của bài Đạo ca do Nhạc sĩ Lê Cao Phan viết ra vào tối 9-5-1951, để chúc mừng Đại hội thành công, đã cũng nêu lên: “Phật giáo Việt Nam thống nhất Bắc Nam Trung từ đây, một lòng chúng ta tiến lên vì đạo thiêng. Nào cùng vui trong ánh đạo vàng rạng ngời bốn phương, vang ca đón chào Phật Giáo Việt Nam”.

Gia Đình Phật Tử chào mừng Đại hội Phật Giáo Việt Nam năm 1951

Như vậy, năm 1951, đối với Phật giáo xảy ra hai sự kiện rất quan trọng, gồm:

* Sáu tổ chức Phật giáo của ba miền đi đến thống nhất thành một tổ chức, với danh xưng Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, đại diện tiếng nói chung của Tăng Ni – Phật tử Việt Nam ở trong nước và trên trường quốc tế.

* Và GĐPTVN, phụng hành ý chỉ của chư Tôn đức Tăng-già đảm nhiệm vai trò: “Giáo dục thanh thiếu đồng niên thành Phật tử chơn chánh, góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo”. GĐPTVN trong giai đoạn này là một tổ chức giáo dục mang tính quốc gia, đóng góp sự có mặt của mình trong dòng chảy lịch sử của Đạo pháp và Dân tộc.

Sau khi Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam hình thành từ Đại hội của sáu tập đoàn Phật giáo vào tháng 5 năm 1951, Tổng Hội phải đương đầu như thế nào với Đạo dụ số 10, do Quốc trưởng Bảo Đại, ký ngày 6-8-1950 tại Pháp, gồm 5 chương và 45 điều quy định về quy chế hội đoàn. Đạo dụ này xếp các tổ chức tôn giáo tại Việt Nam (trừ Thiên chúa giáo) vào hàng ngũ “hiệp hội” dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Chính quyền. Điều khỏan 44 có quy định “Chế độ đặc biệt dành cho các Hội truyền giáo Thiên Chúa Giáo và Gia Tô, các Hoa kiều Lý Sự Hội, sẽ được ấn định sau”, đặt các Hội truyền giáo Thiên Chúa Giáo, Gia-Tô, các Hoa kiều Lý Sự Hội ra khỏi sự ràng buộc của Đạo dụ số 10 này.

Đây là nguyên nhân của sự kỳ thị và phân biệt đối xử tôn giáo tại Việt Nam dưới thời Quốc trưởng Bảo Đại, do chính phủ Pháp đặt để và sai sử kéo dài cho đến nền Đệ nhất Cộng Hòa do Tổng thống Ngô Đình Diệm chấp chính.

Và để tiến tới Đạo dụ số 10 này, thì vào ngày 8-3-1949, việc Quốc trưởng Bảo Đại và Tổng thống Vincent Auriol của nuớc Cộng Hòa Pháp đã cùng nhau ký Thỏa ước Việt – Pháp tại điện Élysée, ngay trong khoản 1, có ghi: “Sự cai trị các sắc dân không phải là người Việt Nam… sẽ được cứu xét bằng quy chế riêng… Các quy chế này phải được thỏa thuận của Đại diện Chính Phủ Cộng Hòa Pháp Quốc, vẫn còn có trách nhiệm đối với họ”. Nghĩa là ý nói Giáo Hội Thiên Chúa La Mã và các nhà truyền giáo Thiên Chúa tại Việt Nam không phải là sắc dân Việt Nam, nên họ phải được cứu xét bằng một quy chế đặt biệt riêng…, các quy chế riêng này phải được thỏa thuận của đại diện Chính phủ Pháp, vì Chính phủ Pháp có trách nhiệm với họ.

Cách mạng tháng tám năm 1945 thành công, vua Bảo Đại ban chiếu thoái vị, trao ấn kiếm lại cho chính quyền mới, tức là Chính quyền Việt Minh vào ngày 30-8-1945 với câu nói nổi tiếng: “Thà làm dân của một đất nước tự do, còn hơn làm vua của một nước nô lệ”. Ấn được gọi là “Hoàng đế chi bửu”, nặng 10 cân vàng và thanh kiếm bạc nạm ngọc với tên là “An dân bảo kiếm”.

Tham dự buổi trao ấn kiếm này có Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận. Trần Huy Liệu đã nhận ấn kiếm trực tiếp từ Hoàng đế Bảo Đại. Sau đó, vua Bảo Đại được chính quyền mới thỉnh mời làm Cố vấn Tối cao của Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Nhưng, diện mạo chính sự của đất nước không đơn thuần như vậy. Pháp liên kết với Anh trở lại xâm lăng Việt Nam lần thứ hai.

Vào tháng 3 năm 1946, trong chuyến đi công tác ở Trùng Khánh (Trung Quốc) cùng với phái đoàn chính phủ, Cựu hoàng Bảo Đại không trở về nước ngay mà ở lại nước ngoài, sau đó sang Hồng Kông sinh sống và tìm hướng đi mới.

Vào tháng 9 năm 1947, ở Hồng Kông, Cựu hoàng Bảo Đại gặp gỡ nhiều chính khách, tạo ra nhiều cuộc hội nghị các đảng phái của Việt Nam về chính sự Việt Nam và thế giới.

Vào ngày 3 tháng 9 năm 1949, Cựu hoàng Bảo Đại rời Hồng Kông về nước theo “Giải pháp Bảo Đại”, đảm nhiệm chức vụ “Quốc trưởng Quốc Gia Việt Nam”.

Người Pháp muốn Cựu hoàng Bảo Đại xuất hiện tại chính sự, vào năm 1949, nhưng không phải vị trí Quốc vương Đại Nam mà Quốc trưởng với tên gọi mới là Quốc Gia Việt Nam.

Các vị Thủ tướng trong thời Cựu hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng:

– Quốc trưởng Bảo Đại kiêm nhiệm Thủ tướng từ 14-7-1949 – 21-1-1950)
– Nguyễn Phan Long (21-1-1950 – 27-4-1950)
– Trần Văn Hữu (6-5-1950 – 3-6-1952)
– Nguyễn Văn Tâm (6-6-1952 – 7-12-1953)
– Hoàng thân Nguyễn Phúc Bửu Lộc (11-1-1954 – 16-6-1954)
– Ngô Đình Diệm (16-6-1954 – 23-10-1955), người sau đó phế truất Quốc trưởng Bảo Đại để lập ra nền Đệ nhất Cộng Hòa.

Trong thời điểm này, lịch sử Việt Nam, vị trí Thủ tưởng của “Quốc Gia Việt Nam” thay đổi liên tục. Cựu hoàng Bảo Đại làm Thủ tướng chưa đầy sáu tháng (14-7-1949 – 21-1-1950). Nguyễn Phan Long làm Thủ tướng chưa đầy bốn tháng (21-1-1950 – 27-4-1950). Trần Văn Hữu làm Thủ tướng hơn hai năm (6-5-1950 – 3-6-1952). Nguyễn Văn Tâm làm Thủ tướng khoảng 18 tháng (6-6-1952 – 7-12-1953). Nguyễn Phước Bảo Lộc hơn năm tháng (11-1-1954 – 16-6-1954). Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng hơn một năm (16-6-1954 – 23-10-1955), sau đó truất phế Quốc trưởng Bảo Đại, thiết lập nền Đệ nhất Cộng Hòa.

Các Bộ trưởng ở trong Nội các của Quốc trưởng Bảo Đại, từ 14-7-1949 đến 21-1-1950, gồm:

Chính phủ đầu tiên (1949–1950): Do chính Quốc trưởng Bảo Đại kiêm quyền Thủ tướng, cùng các thành viên nội các như:

– Bộ trưởng Quốc Phòng: Trần Quang Vinh.
– Bộ trưởng Ngoại Giao: Lê Thăng.
– Tổng trưởng Lao Động Canh Nông và Xã Hội: Phan Khắc Sửu.
– Bộ trưởng Phủ Thủ Tướng: Đặng Trinh Kỳ.

Như vậy, Cựu hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng Quốc Gia Việt Nam từ 1949 cho đến năm 1955.

Từ cách mạng tháng tám năm 1945 cho đến năm 1954, đất nước Việt Nam có quá nhiều biến động về lịch sử, chính trị. Và cũng từ những thời điểm này, năm 1951 là một năm mà cả thế giới và Việt Nam có nhiều sự kiện quan trọng xảy ra.

Chẳng hạn: Ở trong nước, về mặt xã hội, vào tháng 2 năm 1951, Đảng Cộng Sản Việt Nam đổi tên Đảng Lao Động Việt Nam hoạt động công khai trong thời thực dân Pháp. Tháng 3-1951 Đại hội thống nhất Việt Minh và Liên Minh thành Mặt Trận Liên Việt. Và vào thời điểm này cũng thành lập Liên Minh Nhân Dân Việt-Miên-Lào.

Trong thời điểm này ở nước ngoài, chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) từ tháng 7 năm 1951. Các hội nghị đình chiến tại Bàn Môn Điếm chính thức bắt đầu xảy ra. Tại Paris, Hiệp ước ký kết thành lập Cộng Đồng Than Thép Châu Âu (ECSC). Vào tháng 7 năm 1951 Liên Hiệp Quốc thông qua Công ước Về Vị Thế Của Người Tỵ Nạn và định hình luật nhân đạo quốc tế về người tỵ nạn, trong giới hạn bảo vệ người tỵ nạn châu Âu. Vào tháng 9-1951, Hiệp ước San Fancisco ký kết giữa Nhật và các nước Đồng Minh chính thức chấm dứt chiến tranh với Nhật và phục hồi chủ quyền cho đất nước này, sau thế chiến thứ II. Vào tháng 10-1951, Hoa Kỳ và Liên Xô tiếp tục đối đầu chiến tranh lạnh. Tổng thống Hoa Kỳ bấy giờ là Harry’s Truman ký ban hành Đạo luật An ninh chung, tăng viện trợ quân sự ngăn chận phát triển khối Xã hội chủ nghĩa trên trường quốc tế.

Đối với Phật giáo Việt Nam, năm 1951 có những sự kiện quan trọng là: Vào ngày 6-5-1951, tại chùa Từ Đàm kinh đô Huế, sáu Tập đoàn Phật giáo, gồm Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt; Giáo Hội Tăng Già Trung Việt; Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, Hội Phật Học Bắc Việt; Hội Phật Học Trung Việt; Hội Phật Học Nam Việt, của ba miền Bắc – Trung – Nam cử 51 vị Đại biểu đại diện sáu tập đoàn tham dự Đại hội thống nhất thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, công cử Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Hội chủ.

Trong thời kỳ này, Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, phải đối diện với hai thể chế chính trị trên quê hương Việt Nam. Một thể chế chính trị Việt Minh do cụ Hồ Chí Minh lãnh đạo, liên minh những người Việt yêu nước chống Pháp; và một thể chế Quốc Gia Việt Nam do Quốc trưởng Bảo Đại lãnh đạo, vị trí Thủ tướng của chính phủ thay đổi đến chóng mặt. Tuy nói Quốc gia Việt Nam, nhưng thật chất là do Pháp quốc và Thiên chúa giáo đạo diễn và lèo lái mà Quốc trưởng Bảo Đại chỉ là tượng trưng. Đạo dụ số 10, do Quốc trưởng Bảo Đại ký, ban hành 6-8-1950 tại Pháp là một minh chứng.

Trong bối cảnh lịch sử đất nước như vậy, năm 1951, Đại hội Gia Đình Phật Hóa Phổ đổi danh xưng thành GĐPTVN và sáu tập đoàn Phật Giáo đại hội hình thành danh xưng Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, để chuẩn bị cho một chiến lược lâu dài của Phật giáo là vận động hủy bỏ Đạo dụ số 10, mặc dù Quốc trưởng Bảo Đại đã bị Thủ tướng Ngô Đình Diệm truất phế năm 1955, thiết lập nền Đệ nhất Cộng Hòa, nhưng Đạo dụ số 10 do Quốc trưởng Bảo Đại ký vào năm 1950 vẫn được thực thi đối với Phật giáo và xem Phật giáo là một hiệp hội, trong lúc đó Thiên chúa giáo là một giáo hội, không bị chi phối bởi Đạo dụ số 10, dưới nền Đệ nhất Cộng Hòa. Chính sự bất công này đẫn đến sự cáo chung của nền Đệ nhất Cộng Hòa vào ngày 1-11-1963.

Đối mặt với lịch sử đất nước và thế giới có nhiều biến động đầy khó khăn, phức tạp và từ phức tạp này đến phức tạp khác. Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam do Hòa thượng Thích Tịnh Khiết phải làm gì để hộ quốc an dân và đối mặt với Đạo dụ số 10?

– Thành lập các Phật học đường, Phật học viện, đào tạo hàng Tăng sĩ trẻ nhiệt huyết với đạo, với đời, đầy đủ Ngũ minh, đầy đủ giáo lý Năm thừa, để tuyên dương chánh pháp, sẵn sàng dấn thân hành động, vì lý tưởng Bồ-tát đạo, không nề gian lao, không nài khó nhọc. Tìm đủ mọi phương tiện để đưa các Tăng sĩ trẻ du học các đại học lớn ở nước ngoài mang tầm vóc trí thức quốc tế để phụng sự Đạo pháp và Dân tộc trong tinh thần “Hộ quốc an dân”. Các Tăng sĩ trẻ ấy là Thích Thiên Ân, Thích Minh Châu, Thích Mãn Giác, Thích Thuyền Ấn, Thích Huyền Vi, Thích Trí Không, Thích Nhất Hạnh, Thích Quảng Độ, Thích Quảng Liên, Thích Thanh Kiểm, Thích Thiện Châu…

– Thành lập hệ thống giáo dục trường Bồ Đề từ cấp Tiểu học đến Đệ nhị cấp, nghĩa là từ Mẫu giáo đến lớp 12 ngày nay. Hệ thống trường Bồ Đề đã đào tạo thế hệ trẻ trí thức, khiến phân biệt được chánh tà, để khử tà quy chánh. Trường Bồ Đề được thành lập đầu tiên là Trường Bồ Đề Thành Nội – Huế, do Hòa thượng Thích Trí Thủ đặt đá xây dựng vào năm 1951. Và từ đó lan tỏa thành hệ thống trường Bồ Đề khắp cả nước từ vĩ tuyến 17 đến Cà Mau…

– Phát triển các niệm Phật đường, các Khuôn hội từ thành thị đến nông thôn, từ bình nguyên đến cao nguyên, giảng dạy Phật pháp, hướng dẫn quần chúng tin sâu nhân quả, bỏ ác làm lành, bỏ tà về chánh, giữ vững lư hương bát nước của Tổ tiên.

– Hệ thống hóa Tổ chức Gia Đình Phật Từ hàng ngang đến hàng dọc, với “Mục đích đào luyện thanh thiếu đồng niên, thành phật tử chân chánh góp phần xây dưng xã hội theo tinh thần Phật giáo”. Gia Đình Phật Tử Việt Nam, phát triển theo hàng ngang, nghĩa là nơi nào có niệm Phật đường, có Khuôn hội là có Tổ chức Gia Đình Phật Tử, từ ngành Oanh cho đến ngành Thanh. Đơn vị Gia Đình Phật Tử gắn bó sinh hoạt với Khuôn hội hay niệm Phật đường liên thông qua vị Gia trưởng, do Ban đại diện Khuôn công cử.

Phật học đường Nam Việt (chùa Ấn Quang, Saigon)

Gia Đình Phật Tử Việt Nam phát triển hàng dọc, là phát triển cơ cấu tổ chức từ đơn vị Gia Đình địa phương đến Tỉnh hội và Trung ương để phát triển đạo đức và kiến thức Phật học không những chỉ chiều rộng mà còn cả chiều sâu và chiều cao nữa “mang tính thống lý đại chúng”.

Do vậy, Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam đã trở thành tiếng nói chung của Phật giáo Việt Nam ở quốc nội và trên tường quốc tế, mặc dù đang bị khống chế bởi Đạo dụ số 10 do Quốc trưởng Bảo Đại ban hành từ năm 1950.

Năm 1954, Hiệp định Genève ra đời tại Thụy Sĩ, hội nghị kéo dài đến 75 ngày, 31 phiên họp, 9 bên tham gia, gồm: Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Quốc Gia Việt Nam, Pháp, Trung Quốc, Lào, Khmer, Liên Xô, Anh, Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ. Nhưng, bản Hiệp định ký kết vào ngày 21-7-1954, chấm dứt chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ và Quốc Gia Việt Nam không chịu ký, chỉ có đại diện Pháp và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đồng ký.

Nội dung của bản Hiệp định này là công nhận chủ quyền độc lập của các quốc gia Việt Nam, Lào, Kampuchia. Pháp rút quân khỏi Đông Dương. Việt Nam lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời. Sông Bến Hải được chọn làm biên giới tạm thời để hai bên rút quân, không được xem là biên giới chính trị hay quốc gia. Quân đội Nhân dân Việt Nam tập kết ra Bắc. Quân đội Pháp và Đồng minh tập kết vào Nam, thời gian khoảng 300 ngày. Việt Nam sẽ tiến hành cuộc Tổng tuyển cử tự do vào tháng 7 năm 1956, dưới sự kiểm soát của Ủy ban Quốc tế.

Hiệp định Genève ra đời năm 1954, Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam lại đối mặt lịch sử của một đất nước với hai thể chế.

Thể chế Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ vĩ tuyến 17 trở ra, với sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng trên nền tảng “ý thức hệ cộng sản”.

Thế chế Việt Nam Cộng Hòa, do Quốc trưởng Bảo Đại lãnh đạo, sau đó bị Ngô Đình Diệm truất phế qua một cuộc “Trưng cầu dân ý”, thiết lập nền Đệ nhất Cộng Hòa, từ năm 1956 đến năm 1963, theo “ý thức hệ tư bản hay tự do”.

Sau 1954, Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam hành hoạt dưới thể chế Đệ nhất Cộng Hòa và vẫn bị chi phối bởi Đạo dụ số 10, cho đến khi chính quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm chấm dứt vào ngày 1-11-1963.

Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam trở thành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất vào ngày 4-1-1964, Đại hội tại chùa Xá Lợi – Sài Gòn, với bản Hiến chương gồm: Lời nói đầu, 11 chương, 46 điều, mới vượt ra khỏi Đạo dụ số 10, khi biến cố chính trị xảy ra vào ngày 1-11-1963, chấm dứt nền Đệ nhất Cộng Hòa và đến khi Đại tướng Nguyễn Khánh làm Thủ tướng, kiêm Chủ tịch Hội đồng Quân đội Cách mạng ký Sắc luật 158/SL/CT, ghi rõ: “Dụ số 10 ngày 6 tháng 8 năm 1950 cùng các luật lệ trái với sắc luật này, không áp dụng đối với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất”.

Như vậy, sự hành hoạt của Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, trở thành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, suốt trong giai đoạn lịch sử từ 1951 đến 1964, vượt ra khỏi Đạo dụ số 10 là một quá trình đầy chông gai và thử thành, đòi hỏi người lãnh đạo đầy đủ bản lĩnh, để Tăng Ni – Phật tử có một Giáo Hội Thống Nhất ngang tầm với một Giáo Hội không bị chi phối bởi Đạo dụ số 10 là một điểm son, mà Phật giáo của các quốc gia trên thế giới, dù ở vị trí quốc giáo vẫn chưa thể thực hiện được. Nên, phải nói đây là một điểm son sáng ngời trong quá trình hành hoạt của Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam để trở thành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là kết quả tất yếu mà mọi hành hoạt của Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam hướng tới.

Các Thiếu Nữ GĐPT trong Đại lễ Phật Đản PL.2508 (1964) tại thủ đô Sài Gòn
  • Từ Tổng Hội đến Giáo Hội

Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam dẫn đạo lịch sử Đạo pháp và Dân tộc qua những giai đoạn cực kỳ khó khăn của lịch sử, để trở một Giáo Hội. Ấy là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất vào ngày 4-1-1964, với một bản Hiến chương được Đại hội thông qua 11 chương, 46 điều, với lời mở đầu: “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất không đặt sự tồn tại của mình trong nguyên vị cá biệt mà đặt sự tồn tại của mình trong lòng Dân tộc và Nhân loại”.

Cơ cấu tổ chức của Giáo Hội có hai Viện: Viện Tăng Thống và Viện Hóa Đạo. Viện Tăng Thống là cơ quan lãnh đạo tối cao của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất về mặt tâm linh, Đạo pháp và Giới luật mang tính đối nội của Phật giáo. Đứng đầu Viện Tăng Thống là Đức Tăng Thống. Viện Hóa Đạo là điều hành về các phận sự thuộc về tổ chức hành chánh của Giáo Hội mang tính đối ngoại. Đứng đầu Viện Hóa Đạo là vị Viện trưởng Viện Hóa Đạo, điều hành sáu Tổng Vụ.

Sáu Tổng Vụ trực thuộc điều hành của Viện Hóa Đạo, gồm: Tổng Vụ Tăng Sự; Tổng Vụ Hoằng Pháp; Tổng Vụ Pháp Sự (Nghi Lễ); Tổng Vụ Tài Chánh Kiến Thiết; Tổng Vụ Cư Sĩ; Tổng Vụ Thanh Niên.

Gia Đình Phật Tử Vụ là một Vụ trong bốn Vụ của Tổng Vụ Thanh Niên.

Tiền cảnh Đại Hội Huynh Trưởng GĐPT Toàn Quốc năm 1964

Sau Đại hội bất thường tại tu viện Nguyên Thiều vào năm 2003, phục hoạt Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ – Đệ nhất Phó viện trưởng Viện Hóa Đạo, đã ký Quyết định ban hành cho Huynh trưởng cấp Dũng Nguyên Tín – Nguyễn Châu làm Vụ trưởng Gia Đình Phật Tử Vụ, trực thuộc Tổng Vụ Thanh Niên của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Sau khi anh Nguyên Tín – Nguyễn Châu xả bỏ báo thân, anh Nguyên Hoành – Lê Văn San lại tiếp tục đảm nhận vị trí này, để kế thừa tính pháp lý thống nhất của Tổ chức Áo Lam xuyên suốt những chặng đường Lam sử, và mọi hành hoạt đều nằm trong lòng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Lại nữa, đây là một điểm son của GĐPTVN trong những bối cảnh biến động phức tạp của xã hội từ quốc nội đến thế giới.

  • Từ GĐPT Thừa Thiên đến Ninh Thuận tỏa ngát hương thơm

Năm 1950 cụ Tôn Thất Quyền, Trưởng ty Giáo dục Ninh Thuận mời hai huấn luyện viên ở Huế vào dạy lớp Sư phạm, trong đó có anh Phan Cảnh Tuân là một Huynh trưởng Gia Đình Phật Hóa Phổ. Ngày 15-8-1950, anh Phan Cảnh Tuân triệu tập một buổi họp để thành lập Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Hóa Phổ Ninh Thuận gồm có:

– Trưởng ban: Anh Tôn Thất Ái Huyên.
– Phó ban kiêm Thư ký: Anh Văn Vĩnh Chút.
– Phó ban: Anh Phan Thành Thọ.
– Ủy viên Thiếu Niên: Anh Hồ Xuân Yên.
– Ủy viên Thiếu Nữ: Chị Tôn Nữ Thị Triều.
– Ủy viên Đồng Niên: Anh Văn Vĩnh Chút (kiêm nhiệm).
– Ủy viên Đồng Nữ: Chị Lâm Thị Thanh Mai.

Chương trình hoạt động chia làm 3 giai đoạn:

– Củng cố và phân công Ban Hướng Dẫn.
– Tổ chức huấn luyện Đội Chúng trưởng.
– Lập Đoàn kiểu mẫu.

Ngày 21-9-1950 thành lập Gia Đình Phật Hóa Phổ kiểu mẫu đầu tiên. Đó là Gia Đình Tinh Tấn (nay là GĐPT Ưu Đàm) do anh Tôn Thất Ái Huyên làm Phổ trưởng gồm 4 Đoàn:

– Đoàn Thanh Tịnh do chị Tôn Nữ Thị Triều hướng dẫn.
– Đoàn Trí Tuệ do anh Hồ Xuân Yên hướng dẫn.
– Đoàn Từ Bi do anh Phan Thành Thọ hướng dẫn.
– Đoàn Hoan Hỷ do anh Văn Vĩnh Chút hướng dẫn.

Ngày 10-12-1950, Gia Đình Phật Hóa Phổ Tinh Tấn được chính thức công nhận. Cũng trong thời gian này, nhiều Gia Đình được tiếp tục ra đời. Đến cuối năm 1951 có 7 Gia Đình là Tinh Tấn (nay là Ưu Đàm), Mỹ An (nay là Phước Huệ), Tây Giang, An Thạnh (nay là Phước Thạnh), Thuận Hòa, Lương Cang, Bảo An.

Tháng 5-1951 anh Tôn Thất Ái Huyên dự trại Kim Cang ở Huế và tháng 8-1951 anh Nguyễn Khắc Thọ dự trại Lục Hòa ở Nha Trang. Sau đó về Ninh Thuận tổ chức trại huấn luyện đầu tiên.

Ngày 1-11-1951 tổ chức lễ chính thức công nhận Ban Hướng Dẫn GĐPT Ninh Thuận do anh Tôn Thất Ái Huyên làm Trưởng ban.

– Năm 1952, một số Huynh trưởng dự Trại huấn luyện Tinh Tấn ở Nha Trang – GĐPT Văn Sơn được thành lập.

– Năm 1953, một số Huynh trưởng dự Trại huấn luyện Đại Chí ở Nha Trang – Tổ chức trại huấn luyện Đội Chúng Trưởng ở Ninh Thuận.

– Năm 1954 đến năm 1955 nhiều nơi mất an ninh nên tạm ngừng sinh hoạt. Vào năm 1955 cử Đại biểu tham dự Đại hội Huynh Trưởng GĐPT tại Đà Lạt.

– Năm 1956 tình hình ổn định, các GĐPT sinh hoạt lại. Một số GĐPT mới thành lập: Mỹ Phước, An Xuân, Đô Vinh, Tấn Lộc.

– Tháng 9-1956 cử 10 Huynh trưởng dự Trại huấn luyện A Dục tại Phan Thiết.

– Năm 1957 tham dự Trại Liên Hoa do GĐPT Đà Lạt tổ chức tại Ba Ngòi.

– Tháng 8-1958 tham dự Đại hội GĐPT Trung Phần.

– Năm 1959 tổ chức Trại huấn luyện cấp I (Liễu Quán) – Thành lập GĐPT Tri Thủy (Kim Sơn).

– Năm 1960 thành lập GĐPT Phương Cựu, Thương Diêm.

– Năm 1961 tham dự Đại hội GĐPTVN tại Sài Gòn.

– Năm 1963 mặc dù gặp Pháp nạn nhưng các GĐPT vẫn sinh hoạt và tích cực hưởng ứng cuộc vận động của Phật giáo đòi hỏi tự do và bình đẳng tôn giáo. Nhiều Huynh trưởng bị hăm dọa và bị bắt.

– Năm 1964, sau khi Chính quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm kết thúc, Đại hội GĐPT toàn quốc đã thống nhất cả 3 miền với bản Nội quy và Quy chế Huynh Trưởng được thiết lập hoàn chỉnh. Hoạt động của GĐPT có phần khởi sắc. Nhiều GĐPT ở Ninh Thuận được thành lập như: Dư Khánh, Nhơn Sơn, Mỹ Nghĩa, Đắc Nhơn, Sông Pha, Long Hương, Mỹ Thanh. Tổng số Gia Đình là 20 đơn vị với hơn 100 Huynh trưởng và 1.500 Đoàn sinh.

– Tháng 2-1964 tham dự Trại họp bạn Thiện Mỹ ở Đà Lạt.

– Tháng 6-1964 tham dự Đại hội GĐPT toàn quốc tại Sài Gòn.

– Năm 1965, củng cố nội bộ, tổ chức Trại huấn luyện A Dục và Lộc Uyển tại chùa Diệu Ấn và Trùng Sơn. Tổ chức trại Anôma – Ni Liên – Tuyết Sơn tại chùa Trùng Khánh.

– Năm 1965 tổ chức Trại họp bạn Tâm Đồng cho Oanh Vũ và Trại họp bạn cho Huynh Trưởng và ngành Thiếu tại Mỹ Nghĩa.

– Năm 1966 tổ chức Trại họp bạn tại chùa Trùng Khánh…

Nghĩa là GĐPT Ninh Thuận từ năm 1938, Hội An Nam Phật Học tỉnh Ninh Thuận được thành lập do cụ Nguyễn Công Tích làm Hội trưởng và vào năm 1940, Ban Đồng Ấu Phật Tử ra đời do cụ Nguyễn Hữu Bảng và Lê Quang Huy điều khiển cho đến nay trở thành Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Tử Ninh Thuận, đã trải qua những thăng trầm lịch sử của Dân tộc và Đạo pháp không biết bao nhiêu thế hệ tiếp nối cho đến tận hôm nay.

Ban Hướng Dẫn GĐPT Ninh Thuận NK. 2020-2024

Như vậy, GĐPT Ninh Thuận đến nay, năm 2026, đã trải qua 86 năm từ danh xưng Ban Đồng Ấu, 76 năm từ danh xưng Gia Đình Phật Hóa Phổ và 75 với danh xưng Gia Đình Phật Tử Việt Nam.

Mùa An Cư năm nay 2026, Phật lịch 2570, Huynh trưởng cấp Tấn Nguyên Lân – Nguyễn Thị Kiều Hạnh, thay mặt Ban Hướng Dẫn GĐPT Ninh Thuận trực tiếp đến Phước Duyên Tự Viện thăm và cầu thỉnh tôi viết cho một bài để đăng vào Đặc san kỷ niệm 75 năm, với danh xưng GĐPT Ninh Thuận, tôi hoan hỷ nhận lời và có bài viết này, không phải chỉ cho GĐPT Ninh Thuận mà cho cả dòng chảy gắn liền với sinh mệnh của GĐPTVN.

Điều đáng nói, đối với GĐPT Ninh Thuận, với sự hướng dẫn khôn khéo của nhiều thế hệ Huynh trưởng, nên trải qua bao nhiêu biến động chính sự trước 1975 và sau 1975, đều không bị biến đổi, vẫn giữ bản sắc nguyên vị của Tổ chức Áo Lam, trong lúc nhiều đơn vị Tổ chức GĐPT các tỉnh thành bị biến đổi và phân hóa, ngay cả nơi được gọi là mảnh đất và chiếc nôi của Tổ chức GĐPTVN. Ấy lại là một điểm son của GĐPT Ninh Thuận.

Anh Huynh trưởng cấp Dũng Nguyên Lễ – Trần Công Lộc, khi tiếp xúc với bài viết này, chắc chắn tâm linh Anh sẽ mỉm cười và nguyện tái hiện theo Tín hạnh, để cùng với anh em GĐPT Ninh Thuận nói riêng và các anh em GĐPT Việt Nam nói chung “Cùng tiến lên vì Đạo Thiêng, đến bao giờ được tày sen ngát, tỏa hương thơm Từ Bi tận cùng”.

Phước Duyên Tự Viện – Huế, Mùa An Cư, Phật lịch 2570
THÍCH THÁI HÒA

60 lượt xem