Đại Học Huế tranh đấu
Qua hai giờ nói chuyện với Giáo sư Lê Tuyên

Tạp chí BÁCH KHOA – Số 171 ngày 15/2/1964 & 172 ngày 1/3/1964

Tác giả: Nguiễn Ngu Í

L.T.S. Ông Lê Tuyên là một trong những người đầu tiên đã từ ngoại quốc về để cùng Linh Mục Cao Văn Luận xây dựng viện Đại Học Huế. Ông phụ trách môn Việt Văn, đồng thời cũng là tác giả quyển “Chinh Phụ Ngâm, Tâm Thức Lãng Mạn Của Kẻ Lưu Đày”, một tập thơ; và có chân trong nhóm Bút Việt.

Ông là một trong những vị giáo sư hưởng ứng phong trào giáo sư và sinh viên đại học chống chế độ cũ (Ngô Đình Diệm). Cuộc đàm thoại sau đây giữa bạn Nguiễn Ngu Í (của báo Bách Khoa) và ông Lê Tuyên, nhơn dịp ông vô Sài Gòn để họp Hội Đồng Nhân Sĩ, sẽ trình bày cùng bạn đọc những nét chính của cuộc tranh đấu nói trên.

— oOo —

Lần đầu gặp anh ở nhà một người bạn chúng tôi không ngờ người vui vẻ bắt tay mình là người mình muốn gặp.

Tôi chờ đợi một thân thể gầy gò, hay một gương mặt xanh xao, hoặc đôi mắt lờ đờ, mệt mỏi: Hơn hai tháng trường nằm trong bàn tay sắt của Công an Mật vụ Ngô Đình Diệm, một trong những người đã từng hướng dẫn phong trào giáo sư Đại học và sinh viên, học sinh Huế chống lại chế độ cũ đang hồi hăng máu, mà vẫn giữ được cái vẻ thư sinh với sắc diện hồng hào, ánh mắt vui cười sau gương trắng, thì quả là một điều ngạc nhiên thích thú. Mặc dầu hai tháng đã trôi qua…

Như đoán được ý nghĩ tôi, anh mở lời trước:

– Tôi bị mất tự do bảy mươi ba ngày, nhưng không bị tra tấn, nên nay mới được như thế này.

– Nhưng mà tinh thần anh, họ nào có để yên đâu!

Anh cười lặng lẽ. Tôi tiếp:

– Lắm khi thể xác mình bị xác xơ, nhưng rồi sức khỏe hồi phục dễ dàng; còn như tinh thần bị dày vò, nhiều lúc bên ngoài có vẻ như chẳng sao đâu, mà bên trong mình vẫn chưa được bình thường. Chắc anh hiện ở trong tình trạng đó.

Anh xác nhận bằng một cái gật đầu nhẹ.

– Tôi thấy con người tôi chưa được bình thường như trước, tuy tôi được về với gia đình, với xã hội đã trên hai tháng.

– Cũng trên hai tháng nay, anh em chúng tôi muốn tiếp xúc thân mật với anh, để nhờ anh mà hiểu đầu đuôi phong trào giáo sư, sinh viên Đại học Huế chống đối với chánh phủ trước. Vì nếu sinh viên và học sinh Sài Gòn tiếp tục và kết thúc phong trào chống lại bạo quyền, thì cái danh dự giương cao lá cờ chống đối, vốn là phần sinh viên và học sinh Huế, trong đó có thể nói các anh em giáo sư Đại học là linh hồn. Cách tổ chức, những kinh nghiệm cùng các biến cố từ ngày phong trào nhen nhúm đến khi bị đàn áp, rã tan… chúng tôi nghĩ rằng người Việt nào cũng muốn biết. Vẫn biết anh là người trong cuộc, nói ra làm sao tránh khỏi cái “tôi”, điều người trí thức nào cũng kị. Nhưng nếu người trong cuộc mãi giữ im lặng, thì dư luận ắt là phải nghe tiếng nói của người ngoài cuộc, thế nào cũng thiếu sót, nếu chẳng phải sai lầm.

Thấy anh ra chiều nghĩ ngợi, tôi lại tiếp:

– Hẳn anh cũng thấy, chúng ta đang ở trong một thời kì chưa ổn định. Bây giờ chúng ta ngồi đây, thong thả chuyện trò; ai biết ngày mai sẽ dành cho chúng ta những cái bất ngờ gì. Vả lại, chúng ta từng khó chịu – và lắm khi tủi hổ – phải tìm hiểu những gì xảy ra ở nước mình, hay cách mình mấy bước, qua đài phát thanh, qua báo chí, qua bản tin nước người! Chẳng lẽ anh lại nỡ để chúng tôi phải chờ người ngoại quốc cho biết sự thật về vụ này, khi nào họ muốn!

Tới đây, anh vòng tay ôm lấy hai đầu gối, chậm rãi nói:

– Các anh hiểu cho. Sở dĩ tôi lần lữa, là vì tôi đã hành động với một số anh em. Cần hội ý với nhau trước để xét xem có nên hay không. Nếu anh em thấy lúc này có thể nói, thì tôi có tiếc gì với Bách Khoa.

Thế là đành phải chờ anh vào họp(1) khóa sau vậy.

Lần này, thì anh “được phép” nói. Và chính tôi lại lúng túng, không biết nên hỏi về giáo sư trước hay về sinh viên trước! Anh thì sẵn sàng “chịu đựng”. May sao một câu hỏi ổn thỏa vụt đến:

– Chẳng hay cuộc tranh đấu của giáo sư và của sinh viên xảy ra đồng thời hay nó… so le?

– Đồng thời, và bên trong, có cả một chương trình hành động.

– Hai bên chắc có một sự lãnh đạo chung?

– Lãnh đạo chung thì không có, nhưng hai bên thường liên lạc với nhau để biết phải làm gì và để hành động ăn khớp với nhau.

– Phong trào nổi dậy nhơn cuộc đàn áp tín đồ Phật Giáo trong ngày Phật Đản(2), song âm ỉ từ lâu?

– Âm ỉ thì chẳng riêng gì viện Đại học Huế. Anh nhớ lại không khí trong nước lúc bấy giờ, đâu cũng nghẹt thở. Cốc nước đã đầy, vụ đàn áp trắng trợn và vô nhơn đạo trên kia là giọt nước cuối cùng làm cho nước phải tràn ra. Chúng tôi ở ngay tại chỗ, thấy tận mắt, nghe tận tai, nên công phẫn trước. Tôi có thể nói rằng, ngày lịch sử ấy tại Huế, quần chúng thế nào, thì sinh viên, giáo sư thế ấy!

– Nghĩa là máu nóng sôi lên, và không còn sợ gì nữa?

Anh mĩm cười rồi nói:

– Tôi xin kể lại đầu đuôi. Chiều ngày 7 tháng 5 – tức 14 tháng 4 ta – tôi đang dùng cơm với cha Luận, thì nghe tin Chánh phủ ra lịnh cấm treo cờ Phật trong dịp Phật Đản. Tôi rất đổi ngạc nhiên, linh tính báo có điều gì khác thường; cha Luận cũng sững sốt. Đến 9 giờ tối, thì lại được tin ông tỉnh trưởng Thừa Thiên nhượng bộ và mai – ngày Phật Đản – chùa chiền, nhà cửa của Phật giáo đồ được treo cờ. Ai nấy tưởng thế là yên. Nào ngờ sáng hôm sau, sự thật lại khác. Thế là dân chúng tự động biểu tình, rồi cuộc biểu tình biến thành mết tinh. Những gì đã xãy ra trong ngày Phật Đản, hẵn các anh đã rõ, báo chí đã thuật lại, nhất là thiên hồi ký của thượng tọa Thích Trí Quang. Tôi chỉ kể đôi chi tiết nhỏ anh nghe. Đêm rằm ấy, 9 giờ quân đội xịt nước rồi bắn vào đám đông đang tụ tập trước đài phát thanh. Ông tỉnh trưởng đã đích thân ra (vì lúc bấy giờ, ông và thượng tọa Thích Trí Quang đang ở trong đài) yêu cầu ngưng xịt nước và ngưng bắn, quân đội chẳng thèm đếm xỉa…

– Như thế là đã có lịnh trên rồi. Nhưng ai ra lịnh ấy? Ông Cẩn, ông Thục? Hay ông Nhu, ông Diệm?

– Đến giờ, tôi cũng chưa biết rõ. Đạn bắn qua trường Đại học, đối diện với đài phát thanh, làm bể mấy tấm cửa gương, hiện nay vẫn còn để làm chứng. Sáng lại, xe đạp và guốc, dép vứt bỏ ở trước đài phát thanh nhiều đến đỗi Chánh quyền phải cho mấy xe cam nhông đến để thu dọn.

– Sáng hôm sau, anh có đến thăm ông Luận?

– Có. Lúc 7 giờ. Bàn về vụ rắc rối đêm qua, cha cho là do Việt cộng liệng plastic gây nên. Nhưng đến trưa, thì theo tin riêng của phái bộ quân sự Hoa Kì cho biết, họ đã lượm được những quai lựu đạn, đã đục tường đài phát thanh để lấy đạn bắn ghim vào đó, những thức ấy là loại võ khí do Hoa Kì viện trợ. Bởi vậy họ điện về tòa đại sứ ở Sàigòn xác nhận rằng chính những quân nhân được điều động để đàn áp cuộc biểu tình đến đó đã gây ra cuộc đổ máu, chứ chẳng phải Cộng sản. Họ lại nhấn mạnh thứ lựu đạn đưa ra sử dụng là lựu đạn tự vệ, chớ không phải lựu đạn tấn công.

– Có gì khác nhau giữa hai thứ lựu đạn ấy?

– Lựu đạn tự vệ mạnh hơn lựu đạn tấn công.

Im lặng một hồi tôi mới hỏi tiếp:

– Thái độ đầu tiên của các anh chắc là dè dặt.

– Phải nói là rất dè dặt. Vì thấy Chánh quyền chưa tỏ gì gọi là nhượng bộ. Khiến đại úy Minh báo cáo về văn phòng ông cố vấn Chánh trị, đại khái: “Tụi trí thức Huế không có phản ứng gì cả”.

– Nhưng lúc đó, các anh nghĩ sao ?

– Chúng tôi bàn riêng với nhau: Lần nầy, Chánh quyền không giải quyết ổn thỏa thì Chánh phủ chết đến nơi. Đổi đi vài người có trách nhiệm trong vụ nầy; trừng trị nặng vài người gây cuộc đổ máu. Đừng để kéo dài. Dân chúng sẽ phản ứng mạnh, thì tức nước vỡ bờ. Đa số đồng bào dù không phải là Phật tử, nhưng không bằng lòng Chánh phủ từ lâu, nay gặp dịp, tất nhiên họ sẽ đứng vào một mặt trận với các Phật tử để tranh đấu…

– Tôi nhớ dường như lúc gay cấn nhất, ông Cao Văn Luận đi Mĩ thì phải…

Anh gật đầu:

– Cha từ giã Huế đúng vào hôm có cuộc biểu tình vĩ đại của Phật giáo. Có trên bảy vạn người. Đó là ngày thứ sáu, 10 tháng 5.

– Thế thì ai trông nom viện Đại học khi ông viện trưởng vắng mặt?

– Anh Lê Văn xử lí thường vụ, nhưng lúc cha Luận đi, anh Văn đang bận việc ở Sàigòn, nên cha nhờ anh Lê Văn Diệm, khoa trưởng Văn khoa, coi giùm công việc trường. Cha Viện trưởng đi hôm trước thì hôm sau chúng tôi được giấy mời đến chùa Từ Đàm vào lúc 6 giờ chiều hôm ấy để nghe trình bày đơn phương về vụ đáng tiếc vừa xảy ra. Giấy mời từng người nên chúng tôi dễ định đoạt. Ai muốn đi thì đi, ai không muốn đi thì tùy.

– Thế thì như thế giới, giới giáo sư các anh cũng chia làm hai phe!

– Phe đã “dấn thân” (engagé) thì mượn công xa, xe của Viện, mà đi, để tỏ rằng việc mình làm tỏ rõ như ban ngày; còn phe ngần ngại thì ở nhà hay đi cửa Thuận nghỉ mát!

– Phe nầy có nhiều không anh?

– Độ mươi người.

– Buổi trình bày đơn phương ở chùa Từ Đàm ngày 11 tháng 5 ấy, có dân chúng không?

– Không. Chỉ có giáo sư, học sinh và sinh viên.

– Chắc là Thượng tọa Thích Trí Quang đứng lên trình bày.

– Phải. Ông giải thích năm nguyện vọng, và cho rằng Phật giáo đòi hỏi như thế chẳng có gì là quá đáng. Cử tọa đồng ý cho rằng đòi hỏi như vậy là điều chánh đáng.

– Chắc là sau đó, tên các anh em đi dự bị ghi vào sổ đen.

– Chẳng những thế, mà sau đó ông Cẩn cho gọi một anh, trách: Lên đó làm chi để Phật giáo họ lợi dụng sự có mặt của các giáo sư Đại học mà tuyên truyền. Anh bạn nọ trả lời trôi chảy: Bởi có giấy mời chứ nào tự động; vả lại, chính quyền cũng chẳng cấm người đến nghe. Nhưng tình hình mỗi ngày mỗi nghiêm trọng. Chính phủ chưa có dấu gì là nhượng bộ, mà có vẻ “hoãn binh”.

Anh ngưng nói, nhớ một điều gì:

– Tôi muốn nói với anh: Trước kia, anh em giáo sư Đại học Huế đã chận đứng tại ngưỡng cửa Đại học những gì của vợ chồng Nhu. Bất cứ tổ chức gì định lợi dụng giáo sư, sinh viên, là chúng tôi tìm mọi cách “mời” nó ra xa. Như tổ chức “Thanh niên Cọng hòa” là một, tổ chức “Phụ nữ bán quân sự” là hai, và “Tổng hội giáo giới” là ba.

– Nhưng còn trại Giáo dục ở Suối Lồ Ồ vào khoảng tháng sáu ?

– Lúc đầu, chúng tôi định phản đối trại ấy một cách thụ động: Không tham dự. Nhưng vài anh em ngại không đi tức là ra mặt chống đối rồi, thì càng bị để ý, chi bằng một số ở nhà một số đi. Như thế, Chánh quyền chẳng bắt bẻ vào đâu được. Đi để nghe ngóng, để hiểu thái độ anh em ở Sàigòn, cũng có cái lợi. Ý kiến nầy được chấp thuận. Một số lớn đi Lồ Ồ, một số nhỏ ở lại Huế.

– Anh ở lại?

– Tự nhiên là tôi ở lại. Tôi cần có mặt ở Huế hơn là ở Lồ Ồ. Và chính trong thời gian các bạn dự trại, ở Huế có cuộc biểu tình tuần hành lớn. Và chính trong cuộc biểu tình, người ta thấy xuất hiện đoàn Sinh viên Phật tử. Và đoàn sinh viên nầy gởi bản kiến nghị đầu tiên cho Tổng thống, yêu cầu thực thi bản thông cáo chung. Chánh quyền có ý làm khó dễ viện Đại học về vụ nầy, chúng tôi phản đối ngay, vì họ đi biểu tình, họ viết kiến nghị, không phải với tư cách sinh viên suông mà là với danh nghĩa Sinh viên Phật tử, một việc làm không còn thuộc phạm vi viện Đại học.

Khi cuộc biểu tình vừa xảy ra, tôi có đánh điện vào anh em ở Suối Lồ Ồ nên anh em đã có thái độ sẵn. Bởi vậy, trong một buổi họp, khi một vị theo phe chánh quyền yêu cầu tất cả giáo sư Đại học thông qua một bản tuyên ngôn đã được soạn sẵn lên án hành động của sinh viên Huế thì một giáo sư Huế lập tức đứng lên phản đối là anh em ở xa, không thể biết việc làm của sinh viên ngoài ấy đúng hay là sai mà vội lên án được. Lập trường của anh em giáo sư ở Huế được đa số bạn đồng nghiệp ở Sàigòn ủng hộ. Khi bỏ phiếu để lấy quyết định của hội nghị, tuy thắng “phe địch” có hai lá thăm, nhưng anh em Huế cũng tự hào rằng mình đã thắng trong ván đầu.

Không khí nặng nề càng đè nặng lên Huế. Chùa chiền bị canh gác. Ai lên chùa Từ Đàm đều bị khám xét.

Trọn tháng bảy, chúng tôi chỉ liên lạc với nhau để nhận định cho rõ ràng tình hình hầu có một quyết định hành động. Chúng tôi phải tỏ ra hết sức thận trọng; những con mắt của Công an Mật vụ đã hướng về phía chúng tôi.

Nhưng bước qua tháng tám là phong trào bột phát.

Sinh viên Phật tử bắt đầu lên tiếng than phiền: “Thời thế như thế nầy mà các thầy còn ngồi yên”.

Tôi cười:

– May mà họ mới trách móc nhè nhẹ chớ chưa nặng lời mạt sát!

– Ấy cũng nhờ họ hiểu chúng tôi. Anh em chúng tôi đã ôn tồn nói với họ: “Không phải các thầy lãnh đạm thờ ơ. Nhưng các em là Phật Tử, còn các thầy không phải người theo đạo Phật hết. Các thầy ở Đại học, các thầy chờ một sự kiện đặc biệt liên quan với Đại học, các thầy sẽ lên tiếng. Mà sự kiện kia thế nào cũng xảy ra. Chẳng phải các thầy trốn trách nhiệm. Nhưng giờ các thầy chưa điểm…” Nói thế, song thấy các học sinh, sinh viên bị bắt bớ, bị tra tấn, mà vẫn âm thầm hoạt động, chúng tôi cũng thấy khó chịu. Ngày nào chúng tôi cũng họp. Chúng tôi có đặt vấn đề với cha Luận. Cha Luận thì chủ trương ôn hòa: Ta không làm thì thiên hạ cũng làm; chế độ nầy không thể tồn tại lâu; chúng ta làm gì bây giờ cũng sẽ bị đối phương chúng ta – Cộng sản – lợi dụng để khai thác. Nhóm đầu não không chịu. Họ thấy cần tỏ thái độ mình ngay.

Ngày 14 tháng 8, nhân một chú tiểu chùa Phước Duyên tự thiêu (đêm 12 rạng 13), chúng tôi họp bàn với nhau, đặt vấn đề: Nói thẳng với Linh mục Viện trưởng. Rồi vụ một người thợ mộc chùa Từ Đàm bị ám sát bí mật…

Tôi ngắt lời anh:

– Chúng tôi ở trong nầy chưa biết việc nầy. Chẳng hay người thợ mộc ấy có làm gì…

– Người thợ ấy lãnh việc treo biểu ngữ cho nhà chùa. Một khuya nọ, có người kêu cửa, anh ra là bị bắn chết.

– Và chẳng tìm ra thủ phạm!

– Chúng tôi xét rằng mình không thể kéo dài thái độ chờ đợi nữa. Bên Chánh quyền ngày càng nghi ngờ, mà bên sinh viên đã bắt đầu lộ vẻ khinh khi. Tôi với anh Trường bèn đến nhà riêng cha viện trưởng xin từ chức. Cha không nhận, buồn ra mặt, yêu cầu chúng tôi đợi ít ngày, vì từ chức ngay bây giờ không lợi. Thì ngày hôm sau, 15 tháng 8, nhân lễ Đức Bà, học sinh và sinh viên biểu tình. Chính quyền thả chó dữ đàn áp, có cuộc xô xát, và một số sinh viên bị bắt. Tình trạng căng thẳng quá rồi. Ngay chiều hôm đó, sinh viên Phật tử cử một phái đoàn đến yết kiến linh mục viện trưởng với hai yêu sách:

1- Cha viện trưởng và giáo sư Đại học phải tỏ rõ thái độ của người trí thức.

2- Cha viện trưởng và các khoa trưởng can thiệp ngay với chánh quyền để các sinh viên bị bắt được trả lại tự do.Về yêu sách thứ nhì, nếu không được chấp thuận, thì ngay chiều hôm sau, sẽ có một sinh viên tự thiêu trước viện hay trước chùa Diệu Đế.

– Thế linh mục Luận đối phó ra sao?

– Cha đã rơi lệ. Vì con người Đạo và con người Đời xung đột quyết liệt trong cha, không thể dung hòa được nữa. Cha triệu tập hội đồng khoa trưởng và giám đốc lại. Chúng tôi tường thuật những sự việc đã xãy ra và sau cùng cha Viện trưởng nhận lãnh trách nhiệm can thiệp với chánh quyền để trả lại tự do cho tất cả sinh viên Phật tử bị bắt giam.

Trong khi đó, Phật giáo càng tranh đấu mãnh liệt – trong sự bất bạo động. 4 giờ rưỡi khuya ngày 16 tháng 8, chùa Từ Đàm đã chuẩn bị xong cho đại đức Thích Tiêu Diêu châm ngòi lửa vào người. Chánh quyền đối phó bằng cách thiết quân luật vào lúc 6 giờ sáng. Xe tăng ở ngã tư đường, rào thép gai đây đó.

– Thế các anh cũng đối phó chớ?

– May thay, cơ hội đến đúng lúc. Sáng ngày ấy, có cuộc thi về Văn chương Việt Nam do tôi chịu trách nhiệm. Tôi nhắn bảo sinh viên đừng thi vì sinh viên ở ngoại ô không đến được, thi là gây thêm một sự bất công. Tôi bèn nhờ cha Luận điện thoại cho ông Đại biểu Chánh phủ xin phép hoãn cuộc thi. Tự nhiên là người thay mặt chánh quyền nầy cho phép ngay.

Lúc ấy vào khoảng 8 giờ, chúng tôi – 5 anh em – họp nhau ở ngoài hành lang…

– Sao các anh không họp ở trong phòng lại đứng ở ngoài hành lang?

– Vì chúng tôi được biết An ninh quân đội đã móc thêm dây đặc biệt vào điện thoại ở viện, nói gì ở phòng họp đều bị người ta biết cả!

Chúng tôi cũng đồng ý ở điểm chánh quyền họ Ngô đã để lộ bộ mặt tàn bạo, vô nhơn đạo của họ rồi, thì chẳng nên chần chờ gì nữa. Người sống tay không, họ cho xe tăng cán bừa lên, liệng lựu đạn át-xít vào đám học sinh sinh viên; người chết tự thiêu, họ cướp xác chôn vùi ở đâu không ai biết, hoặc xin họ cái hòm để chôn cho kịp, họ cũng không cho. Tàn bạo với người sống, vô nhơn đạo với người chết. Không thể tiếp tay cho một chế độ phi nhơn như thế.

Nhưng muốn tranh đấu có hiệu quả nhiều, phải làm một người dân thường; chớ còn bị ràng buộc bởi những chức tước, địa vị, thì vướng bận lắm. Phải cùng nhau xin từ chức ngay. Nhưng sau đó, ông tổng thư kí viện Đại học cho hay linh mục viện trưởng vừa đi Đà Nẵng, ông không có quyền nhận sự từ chức của chúng tôi, vậy chúng tôi hãy chờ cha Luận sẽ về ngay chiều hôm ấy. Chúng tôi liền yêu cầu ông tổng thư kí ghi vào nhật ký của viện để làm bằng, rằng vào ngày đó, giờ đó, chúng tôi có đến xin viện trưởng từ chức.

Chiều hôm đó, ông bộ trưởng bộ Quốc gia Giáo dục ra Huế cùng với ông Trần Hữu Thế, tân viện trưởng. Hai ông ở Sàigòn ra lúc 5 giờ thì 7 giờ, cha Luận hay tin mình bị cách chức, nhờ ông Thế báo tin riêng nên anh Hanh, khoa trưởng Khoa học, cũng biết. Nhưng vì lúc đó nhằm giờ thiết quân luật, anh chỉ có thể cho những người ở cùng một khu với anh hay được thôi.

Hôm sau, 17 tháng 8 lúc 6 giờ, tôi được anh Nguyễn Văn Thạch cho biết tin. Chúng tôi kéo đến nhà cha Luận. Được biết 9 giờ làm lễ bàn giao, chúng tôi vội vã họp nhau lại ở nhà anh bác sĩ Quyến để phác họa chương trình sẽ cho “bom nổ” cùng một lúc: Cha Luận vừa hết nhiệm vụ là chúng tôi lần lượt từ chức, để anh cao niên nhất mở đầu, rồi theo thứ tự tuổi lớn nhỏ. Cần cho ngoại quốc biết tin sốt dẻo nầy ngay. Anh em giao tôi việc thảo thông cáo. Tôi thảo xong đọc lên, anh em đồng ý, bèn đánh máy rồi cho người mang trao cho đài VOA, Associated Press (AP) và UPI.

– Xin anh cho biết nội dung bản thông cáo ấy.

– Chúng tôi xin từ chức khoa trưởng, giáo sư Đại học vì bị ba xúc động liên tiếp: Chánh phủ đàn áp Phật giáo – Chánh phủ không thực thi bản cam kết với Phật giáo – Chánh phủ cách chức viện trưởng Cao Văn Luận.

– Thế “âm mưu” của các anh có được hai ông Trình, Thế biết trước buổi họp không?

– Không. Tất cả khoa trưởng, giáo sư đều đủ mặt. Ông Trình nói ít lời, đọc sắc lịnh bổ ông Thế đảm nhiệm chức viện trưởng thay cha Luận. Rồi cha Luận đứng lên nói rằng cha sung sướng mà thấy ngày mong đợi đã đến vì vai trò người viện trưởng rất quan trọng, nặng nề, nhất là viện Đại học Huế đang ở thời xây dựng. Cha là người tu hành, không thể kéo dài công việc ngoài đời mãi được. Hơn nữa, không khi nào cha cho mình là người không thể thay thế được. Và cha đọc một câu của Valéry: “Les cimetières sont remplis de gens irremplaçables”(3).

Cha Luận nói tiếp: Cha nghĩ rằng Văn hóa lúc nào cũng trường tồn, nhưng đôi khi nó bị Chánh trị lãnh đạo. Vậy, muốn làm việc đắc lực cho Văn hóa lúc nầy đây, người lãnh đạo viện Đại học phải là người có cái “thế” chánh trị. Tưởng không ai hơn ông tân viện trưởng. Ông Trần Hữu Thế là người “có thế” hơn ai hết: Ông có cái thế của Tổng thống tức là cái thế của Chánh phủ; lại có cái thế của Tổng giám mục Huế tức là cái thế của mấy trăm ngàn giáo dân. Từ trung ương đến địa phương, từ đời qua đạo , thì chắc rằng viện Đại học Huế sẽ có một tương lai vô cùng tốt đẹp, và hơn hẳn quá khứ đi rồi…

– Hẳn là mặt ông Thế lúc đó xám xịt?

– Anh đoán sai. Mặt ông ấy xanh ngắt. Rồi cha cảm ơn các vị giáo sự và yêu cầu chúng tôi cộng tác với tân viện trưởng như đã cộng tác với cha.

– Đến phiên ông Thế, chắc ông cũng tìm cách “trả đũa” ông Luận?

– Đại khái ông Thế cho biết ông đã cố gắng xây dựng Đại học Huế ngay từ khi ông còn làm bộ trưởng. Bằng cách tỏ ra rất dễ dãi về mặt hành chánh, để cho cha Luận mọi sự tự do hành động, lắm khi cha Luận trực tiếp với Tổng thống mà không qua ông, theo hệ thống dưới trên, nhưng ông không lấy thế làm buồn, hiểu rằng cha Luận sở dĩ làm thế vì quá thiết tha với viện, muốn cho công việc được mau chóng. Ông chỉ đảm nhiệm chức vụ này trong một thời gian thôi, trong giai đoạn chuyển tiếp vì ông phải trở về với chức vụ đại sứ tại Phi Luật Tân của ông.

– Ông tân viện trưởng dứt lời chắc cử tọa vỗ tay như thường lệ?

– Không ai vỗ tay cả.

– Cả ông bộ trưởng?

– Cả ông bộ trưởng cũng không buồn vỗ tay.

Ông Thế vừa ngồi xuống trong im lặng thì bác sĩ Lê Khắc Quyến, người lớn tuổi nhất, khoa trưởng Y khoa, đứng lên xin từ chức. Nhưng trái với bản thông cáo gởi cho các đài ngoại quốc, anh chỉ nói: Vì xúc động bởi việc cách chức cha Luận. Rồi đến anh Bùi Tường Huân, khoa trưởng Luật khoa, anh Tôn Thất Hanh, khoa trưởng Khoa học, anh Nguyễn Văn Trường, giám đốc ban Khoa học Đại học Sư phạm.

Anh Lê Văn Diệm thấy anh em đồng lòng như thế bèn tìm một lối ra khác là xin ông bộ trưởng cho du học ngoại quốc một năm! Đến tôi, tôi đưa ra hai lẽ: Một là vì tôi là học trò của cha Luận, cha Luận gọi về công tác tôi mới về; hai là ở trong tình trạng nầy, tôi ở lại đây không làm được gì.

Đến đây, ông Trình không cho ai nói nữa, viện lý do: Đây là lễ bàn giao giữa hai ông tân và cựu viện trưởng. Các giáo sư có muốn từ chức xin nói sau với ông viện trưởng mới.

– Thế ông đại biểu chánh phủ chẳng nói gì sao?

– Sao lại không, anh. Ông Khương nói với vẻ hăm dọa tế nhị. Ông bảo rằng chúng tôi không vì quyền lợi cá nhân mà về Huế (Huế kém quyến rũ, quyền lợi vật chất không nhiều), thì khi đưa ý kiến từ chức hẵn là chúng tôi muốn xa Huế lâu dài vậy.

– Tôi hiểu lời hăm dọa tế nhị ấy rồi. Muốn xa Huế lâu dài tức là muốn bị đày ra miền quan tái như chàng Giang Châu tư mã đời Đường, hay muốn bị nhốt dưới một hầm bí mật nào của cậu Cẩn. Chắc anh cũng có lời gì với vị đại diện chánh quyền ấy?

– Có, nhưng mà thẳng thắn hiền lành. Anh Nguyễn Hữu Trí đáp lại: Chúng tôi về Huế là để phục vụ cho viện Đại học Huế, nay xét không thể phục vụ được như ý thì xin từ chức. Chớ ở lại mà chẳng làm được gì thì chẳng hóa ra phụ người mà cũng phụ mình. Còn như phải xa Huế là việc đã đành.

Ông Trình vội vàng tuyên bố bế mạc buổi lễ bàn giao.

Chúng tôi đưa bản thông cáo cho một số anh em, được 27 người ký; sau đó, số người lên đến 45. Một phái đoàn được cử đến tòa lãnh sự Mĩ để cho hay rằng công việc đã xong xuôi. Ở đây, họ đã dịch tờ thông cáo của chúng tôi rồi, và hỏi chúng tôi có định rút lại đơn từ chức không. Chúng tôi trả lời không, chỉ trừ khi nào chánh phủ giải quyết êm đẹp với Phật giáo, sinh viên, cha Luận.

Ngay sau đó, vào lúc 10 giờ 10 phút, ông Thế nhờ anh đưa lên thăm chùa Từ Đàm. Gặp lúc dân chúng lên chiêm ngưỡng Xá Lợi của đại đức Tiêu Diêu, người đông như thác. Ông Thế mất tinh thần. Trở về, lại được nghe bản thông cáo của chúng tôi. Ông thấy mình bị cô lập nên lẽn về Sài Gòn tức khắc (lúc 10g30).

Ngay hôm đó, lúc 11 giờ, chúng tôi đến thăm cha Luận. Cha cho biết sắp đi Đà Nẵng để rồi đi Sài Gòn. Chúng tôi khuyên cha hãy ở lại Đà Nẵng để chúng tôi tiện bề liên lạc, có gì thì bàn tính với nhau trước khi định thái độ.

Chiều ngày 17, sinh viên biểu tình. Chúng tôi có đưa ý cho anh em tách cuộc tranh đấu nầy ra ngoài cuộc tranh đấu Phật giáo. Anh chị em biểu tình là để phản đối Chính phủ cách chức cha Luận, do đó đa số giáo sư phải từ chức. Mục đích là để yêu cầu cha Luận và các giáo sư ở lại. Tuyệt nhiên không nói gì đến vấn đề Phật giáo cả.

– Như thế là các anh đặt Chính phủ đứng trước hai vấn đề rắc rối cả hai!

– Có phải thế không anh? Gom lại một thì ít, thì yếu. Tách ra làm hai: Sinh viên Phật tử tranh đấu để bảo vệ Phật pháp, tất cả sinh viên tranh đấu để giữ lại viện trưởng và giáo sư – thì làm khó dễ Chánh quyền thêm!

Hai giờ chiều, ông Trình cho mời chúng tôi tới, yêu cầu rút đơn từ chức.

– Ông bộ trưởng yêu cầu các anh chung một lần hay riêng từng người?

– Riêng từng người. Nhưng không phải ông gặp chúng tôi hết, một số được ông tiếp, còn anh Trường và tôi thì lại “bị” ông đại biểu chánh phủ ngỏ ý muốn gặp.

– Tiếp hai anh một lượt?

– Không, anh ạ. Ông ta chỉ mới ngỏ ý muốn gặp riêng từng người. Chúng tôi phản đối. Ông bộ trưởng là cấp trên trực tiếp, ông muốn tiếp từng người cái đó tùy ông; còn ông đại biểu chánh phủ là người thay mặt chánh quyền tiếp người này trước rồi đến người kia, ai biết ông sẽ dở trò gì đối với một người chống đối mà ông định mua chuộc hay dọa dẫm, không ai làm chứng. Nên chúng tôi đưa điều kiện mời hai người một lần chúng tôi mới chịu.

– Nhưng ông ta không chịu?

Anh mĩm cười, và mắt anh mơ màng sau kính trắng như để nhớ lại cảnh và người hôm ấy.

– Trong lúc ấy, hơn ngàn sinh viên kéo đến nhà cha Luận thì cha Luận đã đi Đà Nẵng trước đó năm phút. Lúc bấy giờ là hai giờ rưỡi. Đoàn sinh viên đi xuống tòa đại biểu để trình kiến nghị cho ông bộ trưởng, cuộc biểu tình nầy được ông tỉnh trưởng Nguyễn Văn Hà cho phép. Ông Trình coi mòi không êm, gọi máy bay ở Đà Nẵng ra Huế rước ông về Sàigòn gấp. Máy bay ra nhưng sinh viên đã vây chặt tòa đại biểu, ông đành chịu kẹt.

Ông đại biểu Chánh phủ cho mời một phái đoàn sinh viên vô, nhưng sinh viên không chịu, họ yêu cầu hoặc cho họ vô hết hoặc ông bộ trưởng ra. Ông bộ trưởng đành nhượng bộ. Họ lễ phép trình bày nguyện vọng và trình bản kiến nghị đệ lên Tổng thống.

Trong bản kiến nghị “toàn thể sinh viên thuộc các phân khoa viện Đại học Huế, họp tại trường Đại học Khoa học lúc 14 giờ ngày 17-8-1963” yêu cầu Tổng thống thâu hồi lệnh bãi chức viện trưởng của linh mục Cao Văn Luận và tìm mọi phương sách để các khoa trưởng và giáo sư đã từ chức đảm nhận lại chức vụ của mình – cũng trong bản kiến nghị nầy, các sinh viên “quyết định bãi khóa cho tới khi nguyện vọng trên đây được thỏa mãn”.

Đưa kiến nghị xong, họ về cầu Tràng Tiền định diễn hành sang phố nhưng bị Cảnh sát Chiến đấu bao vây nên phải tập trung lại trong tòa Khâm sứ cũ và giải tán tại đó.

Bốn giờ, chúng tôi họp để vận động anh em từ chức, nhưng có bảy anh chẳng khứng.

– Anh cho biết nhân viên giảng huấn của viện được bao nhiêu người?

– Được từ 52 đến 55 người mà có 45 người ký vào đơn xin từ chức.

– Như thế số người đứng ngoài cuộc tranh đấu không là bao.

– Nhưng chúng tôi muốn không có một bạn nào đứng riêng nên cố vận động với anh em Đại học Văn khoa: Chưa có một chử ký nào của anh em này cả. Các anh ấy hẹn ngày mai, để tối suy nghĩ lại và ra về. Những bạn đã xin từ chức ở lại bàn với nhau nên đặt kế hoạch hẳn hoi. Đã ra mặt chống đối Chánh quyền – dù là tiêu cực đi nữa – thì cần phải có quĩ tranh đấu. Mỗi anh em góp một số tiền để thành lập quĩ. Chớ còn dùng phương tiện của Chánh phủ (như đánh máy, quay rô-nê-ô) thì danh bất chánh mất. Rồi chúng tôi chia tay, hẹn họp lại sáng mai, chủ nhật 18-8.

Trước khi họp, bác sĩ Quyến cho hay ông Cẩn khi được biết cha Luận bị cách chức, có thốt một câu: “Tụi nó đạp trên đầu tôi mà đi”!

Trong phiên họp sáng 18-8 này tại Đại học Sư phạm, chúng tôi quyết định đánh điện cho ông bộ trưởng cho hay vẫn giữ lập trường. Chúng tôi cũng đánh điện cho hai viện Đại học Sàigòn và Đà Lạt, báo tin việc chúng tôi từ chức chớ chưa kêu gọi các bạn đồng nghiệp hai nơi này ủng hộ. Rồi chúng tôi thảo một bức thư ngỏ cho toàn thể giáo chức Tiểu, Trung và Đại học toàn quốc. Đến chiều thì bức thư ấy được anh em giáo chức duyệt y và đồng ý gởi đi. Trong thư có những đoạn nguyên văn như sau:

… Tình trạng sinh viên của viện Đại học Huế càng ngày càng trầm trọng vì tinh thần của họ luôn luôn bị căng thẳng bởi tất cả lực lượng quân sự hay võ trang, bấy lâu nay chỉ biết thẳng tay đàn áp chứ không quan tâm đến sự thực thi bản Thông cáo chung giữa Phật giáo và Chánh phủ. Hầu hết sinh viên đều là Phật tử, và họ đã gánh chịu một cách thê thảm hậu quả tàn khốc của những vụ đàn áp đến nỗi ngày 15-8-63 vừa qua, một phái đoàn Nam Nữ Sinh viên đã đến yết kiến linh mục Viện trưởng, kêu gọi lòng nhân đạo của Người để ra tay cứu vớt cho họ. Một giàn củi đã được dựng lên tại chùa Diệu Đế và họ đau đớn tuyên bố sẽ hỏa thiêu và bãi khóa.

Linh mục Viện trưởng đã xúc động rơi lệ trước buổi tiếp kiến đó, nhưng người chưa kịp làm gì thì đã bị cách chức và sinh viên phẩn uất biểu tình chiều 17-8 trước tòa Đại biểu Chánh phủ, trao cho ông Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục một bản kiến nghị để đệ trình Tổng thống. Họ cũng long trọng xác định lại vấn đề bãi khóa và hỏa thiêu làm cho chúng tôi vô cùng đau đớn vì nhận thấy rằng vấn đề càng ngày càng thêm trầm trọng, không những chỉ ở phạm vi tín ngưỡng mà còn lan tràn sang cả địa hạt giáo huấn, gây cho những giáo chức có trách nhiệm những khó khăn mà tự cá nhân mình cũng như cả Đại học họp lại cũng không thể nào giải quyết được.

… Vì thế chúng tôi thiết tha kêu gọi sự sáng suốt giúp đỡ của quí vị Khoa trưởng các phân khoa Đại học, các vị Giám đốc các trường Cao đẳng, các vị Hiệu trưởng các trường Trung, Tiểu học toàn quốc, sự đoàn kết huynh đệ chân thành về mọi phương diện của tất cả các bạn đồng nghiệp giáo chức, để cùng nhau tìm ra một giải pháp ổn định cho tình thế mà giáo dục cũng như xã hội đã bị lâm nguy suốt ba tháng rưỡi.

Chúng tôi được tin mai ông Thế ra, bèn làm cho xong một việc chưa kết liễu, đó là một vận động lấy chử kí của anh em Văn khoa. mãi đến 9 giờ tối mà các bạn ấy vẫn không chịu kí. Chúng tôi hết sức buồn, buồn vì nói hết nước bọt thì ít mà buồn vì thấy anh em không chịu “dấn thân”. Có tới hai cớ để mà chẳng thể đứng bàng quan: Nếu không xúc động vì Phật giáo bị đàn áp dã man thì cũng xúc động vì linh mục viện trưởng bị cách chức vô lối. Sau cùng, các bạn ấy bảo “Để rồi chúng tôi làm riêng”. Thôi thế cũng được. Miễn là anh em rồi cũng có làm một cái gì hơn là mãi thờ ơ…

– Nhưng sau rốt “một cái gì” ấy có không?

Anh thở dài và gương mặt tươi trẻ của anh bỗng tối lại:

– Rốt lại chẳng có gì cả. Đáng buồn hơn nữa là các bạn ấy cho là bản văn chúng tôi đã kí và mời các anh cùng kí vốn kém ôn hòa, để các anh sẽ thảo một bản khác ôn hòa hơn. Nhưng bản văn từ chức soạn vào chiều 17-8-1963 là chính do đề nghị của các anh em ấy.

Xin nhắc lại rằng bản văn từ chức nầy khác với bản Thông cáo của chúng tôi do đài VOA loan đi. Bản văn nầy chỉ nói đến tình hình của Viện Đại học mà thôi, còn bản Thông cáo gửi đài VOA nêu rõ 3 lý do từ chức của các Khoa trưởng, Giám đốc học vụ và nhân viên giáo huấn Y khoa, Luật khoa, Khoa học, Sư phạm trong viện Đại học Huế: – Xúc động trước hai vụ hỏa thiêu và cướp xác tại Huế, trước sự đàn áp bắt bớ Phật tử và sinh viên Phật giáo, – Xúc động trước sự thờ ơ của chánh phủ kéo dài đến 3 tháng rưỡi mà không đem lại giải pháp nào để ổn định tình thế, – Xúc động trước sự thay thế linh mục viện trưởng.

Sáng ngày 19, ông tỉnh trưởng Thừa Thiên cho hay rằng Công an đã được lệnh bố trí để kịp thời ngăn chận những cuộc biểu tình của sinh viên. Vì hôm nay là ngày kỷ niệm cách mạng tháng 8 nên Công an có thể nhân dịp sinh viên biểu tình mà buộc tội những người đi biểu tình là Việt Cộng – tin nầy ông Tỉnh trưởng mật báo cho tôi để kịp đề phòng, ngăn giữ đừng cho sinh viên mắc mưu họ mà biểu tình hôm đó.

Chúng tôi bèn về sân viện Đại học chờ ông Thế. Chính trong lúc chờ đợi nầy chúng tôi nhận được tờ Tuyên cáo của viện Hán học, lời lẽ còn hăng hơn chúng tôi nhiều.

Nói tới đây, anh đưa cho tôi coi bản “tuyên cáo” in ronéo của “Giảng viên Viện Hán học Huế” đề ngày 17/8/63, nội dung tán đồng quan điểm của các khoa trưởng và giáo sư các phân khoa Đại học Huế, phản đối những lời tuyên bố của những nhân vật không có trách nhiệm đã gây hoang mang trong dân chúng; phản đối những hành động che dấu sự thật; xúc động trước sự tranh đấu bất bạo động của Phật giáo đồ; bất bình vì sự bãi chức linh mục viện trưởng Cao Văn Luận cũng là Giám đốc viện Hán học Huế. Do đó, toàn thể giảng viên Viện Hán học tuyên bố nghĩ việc giảng dạy.

Người ta đọc được những tên ký dưới Tuyên cáo như sau: Võ Như Nguyện, Nguyễn Duy Bột, Hà Ngãi, Nguyễn Hưng Giáo, Hồ Đắc Định, Cao Hữu Hoành, Phan Chí Chương, Nguyễn Hữu Châu -Phan, Cao Xuân Duẫn, Phan Văn Dật, Châu Văn Liệu, Nguyễn Văn Dương, Nguyễn Doãn Thám, Trương Xuân Trực, bà Nguyễn Thị Trang (tức bà Nguyễn Hữu Trí), La Hoài, Vĩnh Quyền, Nguyễn văn Kháng.

– Hẳn là ở viện Hán học mọi người đều kí vào tuyên ngôn “nẩy lửa” nầy?

– Tiếc thay, có hai người không kí. Chúng tôi bèn gửi bản Thông cáo của chúng tôi, bản tuyên ngôn nầy, cùng bức Thư ngỏ với giáo chức toàn quốc đã quay ronéo vào Sàigòn, nhờ một bà Mĩ mang đi. Trưa hôm ấy thì chùa Xá Lợi phát thanh hai tài liệu đó.

Chúng tôi cấp tốc thành lập một ủy ban gồm 5 người lấy tên là Ủy ban Liên lạc Giáo chức với 5 tiểu ban sau đây ra đời: Ấn loát, Liên lạc, Chính trị, Ngoại giao và Phụ trách sinh viên.

Xong, chúng tôi nhờ người giữ công văn ghi đơn từ chức của chúng tôi vào sổ, kèm theo thông cáo của chúng tôi và tuyên ngôn của viện Hán học. Lúc 11 giờ, bác sĩ Quyến đọc cho sinh viên và chúng tôi nghe bức điện tín của đại sứ Trần văn Chương (thân phụ bà Nhu) gởi linh mục Cao Văn Luận. Đây là một bức điện tín công khai ủng hộ lập trường của viện Đại học và phỉ báng chính quyền Ngô Đình Diệm:

TÉLÉGRAMME

Washington, le 18-8-1963

Révérend Père CAO VAN LUẬN, University Hue

Veuillez recevoir l’expression de ma sincère sympathie (stop). Vous aurez rendu un grand service au pays et au gouvernement en contribuant à montrer que la dignité humaine est le plus respectable des biens et que les forces morales triomphent toujours au Vietnam comme au treizème siècle et comme en 1954 et 1955 – Trần Văn Chương.

(Dịch: Hoa Thạnh Đốn, ngày 18-8-1963

Linh mục Cao văn Luận, Đại học Huế

Xin nhận cảm tình chân thành của tôi (stop). Ngài đã giúp ích nhiều cho xứ sở và cho chính phủ bằng cách giúp cho thấy rằng phẩm giá con người là tài sản đáng kính trọng nhất và những lực lượng đạo đức luôn luôn đắc thắng ở nước Việt, cũng như ở thế kỉ thứ mười ba và cũng như ở những năm 1954 và 1955 – Trần Văn Chương).

11 giờ 15 phút, ông Thế tới. Tất cả sinh viên đều đứng im lặng trong sân tòa viện trưởng. Ông Thế tưởng đâu sinh viên đến chào mừng viện trưởng mới, nên rất vui vẻ, song chưa biết nên có thái độ như thế nào. Sau đó ông vào văn phòng và ngỏ lời với toàn thể giáo chức, nhưng khi ông chấm dứt thì cả một sự im lặng đáp lại với ông.

Trong sự im lặng nặng nề, anh niên trưởng Quyến bước ra đưa đơn từ chức của chúng tôi và liền sau đó chúng tôi rút lui. Một đoàn đại diện sinh viên liền vào văn phòng viện trưởng và đưa bức Tâm thư. Trong thư nầy, sinh viên rất mực tán dương ông… đại sứ (họ không gọi là viện trưởng!). Yêu cầu ông dùng tất cả uy tín đề đạt lên chánh phủ sự thiết tha của toàn thể sinh viên Huế được thấy cha Luận về làm viện trưởng trở lại. Trong khi ông Thế xem thư thì tất cả sinh viên đều ngồi ngoài nắng và tuyệt đối giữ im lặng.

Trong bức tâm thư của sinh viên Đại học Huế gửi giáo sư Trần Hữu Thế có những đoạn sau đây:

… Sự thay thế chức vụ viện trưởng của linh mục Cao Văn Luận đã gây xúc động lớn trong toàn thể sinh viên chúng tôi. Chúng tôi buộc phải tranh đấu để mong Chính phủ hiểu thấu nguyện vọng sâu thẳm của chúng tôi để linh mục Cao Văn Luận có thể phục hồi lại chức vụ viện trưởng.

Đây là một cuộc tranh đấu chính đáng, đầy nghĩa khí mà một người trí thức như Giáo sư hẳn không bao giờ phủ nhận.

Vậy để cuộc tranh đấu của chúng tôi khỏi gặp thêm trở ngại khó xử, chúng tôi tha thiết kính mong giáo sư từ chối chức vụ Viện trưởng của viện Đại học Huế.

– Nhưng rồi ông Thế phải phá tan sự im lặng ấy chứ?

– Chớ còn ai làm việc ấy. Ông chỉ nói một câu: “Tôi xin nhận thư nầy và tôi sẽ chuyển lên cấp trên”. Rồi ngại sinh viên có thể xúc phạm đến người ông, ông định chuồn ngõ sau. Nhưng anh Hồ, tổng thư ký, cản không cho, khuyên ông nên đi ngõ trước để giữ thể diện viện trưởng. Ông đành phải làm theo, sinh viên bèn rẽ ra, để đường cho ông đi. Chừng ấy, họ mới vỗ tay.

Ghi chú:

(1) Anh có chân trong Hội Đồng Nhân Sĩ.

(2) Rằm tháng 4 năm Quí Mão (nhằm ngày thứ tư, 8 tháng 5 năm 1963).

 

(3) “Nghĩa địa đầy những kẻ cho mình không ai thay thế được”.

1354 lượt xem