Đại Học Huế tranh đấu
Qua hai giờ nói chuyện với Giáo sư Lê Tuyên

Tạp chí BÁCH KHOA – Số 171 ngày 15/2/1964 & 172 ngày 1/3/1964

Tác giả: Nguiễn Ngu Í

(TIẾP THEO & HẾT)

 

Chúng tôi giải tán ra về, anh em sinh viên cũng thế. Chúng tôi về cùng một xe để bàn tiếp công việc phải làm. Ai cũng đồng ý mỗi ngày phải làm một cái gì mới để dồn chánh quyền vào cái thế bị động, luôn luôn phải đối phó không thì thua họ mất. Biểu tình là hành động cuối cùng và quyết liệt một mất một còn, phải để dành cho đúng lúc. Còn bây giờ thì quyết định một cuộc họp báo tại viện vào chiều thứ ba 20-8. Và mời ngay cha Luận về Huế để cha có thể tránh được những áp bức của chánh quyền.

Nếu mời không được thì yêu cầu cha đừng kí vào cứ giấy tờ chi, vì e vô tình cha cản trở cuộc tranh đấu của chúng tôi khi bị áp lực của các “bề trên tôn giáo” chẳng hạn.

Phải đẩy phong trào lan xuống giới giáo sư Trung học để khỏi bị cô lập hóa. Và vận động liền với hai trường Trung học Quốc học và Đồng Khánh, rồi đến các trường Trung học khác để sao mỗi ngày mỗi trường tung ra một bản tuyên ngôn.

Chúng tôi phải phân công việc cho mỗi tiểu ban họp riêng, làm việc riêng, và đến 17 giờ chiều ấy cùng đến trường Y khoa để họp.

– Các anh làm ráo riết thế chẳng lẽ ông Thế lại ngồi im đợi?

– Ông cũng làm phần ông chớ. Ông cho mời riêng chúng tôi và yêu cầu rút chử kí. Nhưng không một ai chịu cả. Đến 5 giờ chiều, chúng tôi được tin Sài Gòn có cuộc tuyệt thực vĩ đại ở chùa Xá Lợi, sinh viên và học sinh có tham dự đông đảo. Chùa lại có phát thanh những bài công kích ông bà Nhu. Chúng tôi định cử người vào Sài Gòn để bàn cách tranh đấu sao cho thống nhất giữa Sài Gòn và Huế. Vì thế nào, với cái đà nầy, tăng ni, sinh viên, học sinh, giáo sư cũng phải cùng xuống đường. Và chừng ấy, là một còn một mất.

– Thái độ của người Mĩ ở Huế ra sao anh?

Anh đưa hai bàn tay ra nhưng chỉ nói:

– Đương nhiên những người có trách nhiệm tại Huế tán thành và giúp đỡ để phổ biến mau chóng việc làm của chúng tôi. Nhưng trên cương vị chính trị và ngoại giao, họ vẫn chính thức thừa nhận Chánh phủ Ngô Đình Diệm là chánh phủ có thẩm quyền hiện hữu.

– Còn Phật giáo?

– Phật giáo thì rất đỗi hoan nghinh. Chúng tôi tạo thêm cho họ yếu tố để đẩy mạnh cuộc tranh đấu bảo vệ Phật pháp.

Chiều thứ hai 19, sau buổi họp chung tại Đại học Y khoa của Ủy ban liên lạc, chúng tôi ra một bản thông cáo tóm tắt những việc đã làm, và xác nhận chúng tôi không bao giờ rút lại chử kí. Bản thông cáo nầy, người trong nước không hay, nhưng tin lãnh sự Mĩ được biết.

Sáng thứ ba, chúng tôi họp khoáng đại hội nghị tại viện, hay tin cha Luận đã trả lời một bức thư ông Thục. Ông đại diện Chánh phủ chụp lại phần “Tái bút” gởi qua viện.

– Anh còn nhớ đoạn “Tái bút” ấy nói gì mà ông đại biểu Chánh phủ miền Trung lọi dụng nó…

– Nguyên văn thì tôi không nhớ, nhưng đại ý cha Luận nói với ông Thục dầu Tổng thống có yêu cầu, cha vẫn không trở về làm viện trưởng lại.

Chúng tôi lật ngược thế cờ. Vì nhận xét thấy cha Luận viết có mấy dòng mà sai chánh tả, sai văn phạm nhiều quá trái hẳn với mọi khi. Chúng tôi kết luận rằng cha viết thư nầy dưới một áp lực nào đó, khiến cha mất hẳn bình tĩnh. Vậy thì đoạn “Tái bút” nầy vô giá trị.

– Còn anh em sinh viên?

– Hai anh chánh phó đoàn trưởng, Thơ và Giàu, luôn luôn liên lạc với chúng tôi. Anh em họp tại Morin, lập quĩ tranh đấu được vài ngàn. Rồi in truyền đơn, phát; viết biểu ngữ, căng; tối lại thì viết khẩu hiệu ở vách tường, công an đem vôi lại quét thì anh em lại viết.

Phần chúng tôi trù liệu một cuộc họp báo nên đự định cho người vô Đà Nẵng mời cha Luận về – đi bằng xe lửa để ít ai để ý. Có người tin cho chúng tôi biết vài sinh viên bị bắt. Anh em sinh viên và chúng tôi quyết định nếu Chánh quyền khủng bố mạnh thì giáo sư và sinh viên phải biểu tình.

Anh em sinh viên còn quyết liệt hơn: Hễ một giáo sư ban nào bị bắt thì có ngay một sinh viên ban ấy tự thiêu để phản đối. Và đã có bảy sinh viên ở bảy phân khoa tình nguyện hy sinh.

– Thật là một tiết lộ bất ngờ! Chúng tôi ở Sàigòn rất ít ai biết điều nầy.

– Chúng tôi lại được biết trong khoảng từ 21 đến 23 Sàigòn sẽ có cuộc biểu tình lớn. Huế sẵn sàng ũng hộ.

Chúng tôi còn nghe tin Chánh quyền dự định bắt anh Lê Khắc Quyến và tôi, vì họ cho rằng mất hai chúng tôi thì phong trào tranh đấu của giới giáo sư và sinh viên sẽ tan ngay.

– Biết thế, các anh có định lánh mặt chăng?

– Việc bị bắt chúng tôi có nghĩ đến, còn việc lánh mặt thì không. Trốn tránh lẩn núp là cho việc làm của mình sai bậy; hơn thế nữa, đối với học trò và bạn bè của mình là một sự phản bội.

Thấy tôi không hỏi gì thêm mà có chiều tư lự, anh ngước nhìn tôi bằng đôi mắt.

– Anh làm tôi nhớ lại một bạn khác, bạn thân với Nhất Linh. Anh bạn nầy có nói với tôi nhân cùng bàn về cái chết của Nhất Linh: “Anh Nhất Linh quan niệm rằng người lãnh đạo có bổn phận đi trước quần chúng, và khi cần phải chết trước quần chúng chớ không phải quan niệm như Cọng sản. Người Cọng sản quan niệm rằng nếu cần thì hi sinh quần chúng để bảo vệ cấp lãnh đạo, và cấp lãnh đạo có bổn phận đi sau quần chúng, và có gì nguy thì lẩn tránh ngay để chờ cơ hội thuận tiện; quần chúng lúc nào cũng có sẵn có hao hụt cũng chẳng sao, còn một người lãnh đạo phải mất nhiều công phu và thời giờ để đào tạo, và lắm khi mất một người lãnh đạo là thiệt hại cho cả một phong trào…”

– Chúng tôi có thái độ như thế quyết không lẫn tránh, vì nghĩ đó là thái độ phải chăng của người trí thức. Và (anh mĩm cười) xin anh chớ xem chúng tôi là những “nhà cách mạng” hay những “lãnh tụ một phong trào quần chúng” mà phê phán.

Mình đi xa câu chuyện rồi! Chúng tôi họp đến một giờ mới chia tay. Qua một giờ rưỡi chúng tôi liên lạc được với nữ Trung học Đồng Khánh, được tin là đến 5 giờ Đồng Khánh sẽ có bản tuyên ngôn. Thế là ngày 20, chúng tôi có một cái gì “mới” rồi. Ngày 21 sẽ đến phiên nam Trung học Quốc học. Chúng tôi hăng hái hơn, chia nhau vận động các giáo sư các trường tư, các cựu sinh viên Đại học Sư phạm để họ hưởng ứng phong trào mà lần lượt tung ra những bản tuyên ngôn. Thắng lợi chót của chúng tôi về mặt nầy là lúc 14g30, anh em giáo sư Cao đẳng Mĩ thuật đồng ý với chúng tôi về nguyên tắc tranh đấu, trong đó có anh giám đốc Mai La Phương. Chúng tôi sắp đặt chương trình hành động cho những ngày 21, 22 và 23.

Hai giờ chiều, chúng tôi về nhà hàng Morin thì biết được ông Thế bắt đầu mở cuộc phản công. Ông vừa ra thông cáo số 1 cho hay từ đây các giáo sư muốn họp phải có phép.

Ba giờ, thông cáo ấy đến tay chúng tôi. Đại ý là các khoa trưởng và giáo sư hay Tổng hội Sinh viên muốn sử dụng các phòng họp và giảng đường phải xin phép trước tòa viện trưởng. Những cuộc họp báo hay thảo luận về tôn giáo, chính trị phải xin phép thêm ông thị trưởng thành phố Huế.

Nhưng trong phạm vi viện Đại học, chúng tôi còn có quyền họp tại phòng giáo sư. Độ ba chục anh em chúng tôi đã họp tại đây và đối phó lại thông cáo số 1 của ông tân viện trưởng bằng Thông cáo 2, cho rằng ông nầy đã hành động trái với truyền thống Đại học, vốn tự trị, tự do.

THÔNG CÁO SỐ 2

Các Khoa trưởng và Giám đốc ký tên sau đây cực lực phản đối việc ông Trần Hữu Thế vừa ra Thông cáo số 1 ngày 20 tháng 8 năm 1963 cho biết rằng: “Những cuộc hội họp trong các phân khoa Đại học phải được Tòa Viện trưởng cho phép”.

Điều khoản trên của thông cáo nầy không dựa trên một văn bản pháp lý nào và trái với tinh thần Tự do và Tự trị của các phân khoa Đại học từ trước đến nay.

Huế, ngày 20 tháng 8 năm 1963

Các Khoa trưởng Đại học Y khoa, Luật khoa, Khoa học: Lê Khắc Quyến, Bùi Tường Huân, Tôn Thất Hanh.

Các Giám đốc Học vụ Đại học Sư phạm: Nguyễn Văn Trường, Lê Tuyên.

– Và thông cáo 2 nầy, các anh cũng đưa cho tòa lãnh sự Mĩ như thông cáo 1?

Anh gật đầu:

– Chúng tôi định cho chụp hình lại để gởi các cơ quan ngoại quốc khác, và hủy bản chánh. Nhưng hiệu làm “photocopie” lại thối thác bảo để mai mới làm.

– Các anh có ngờ rằng hiệu nầy đã được lịnh trên “dạy” làm thế chăng?

Lúc đó thì không ngờ nhưng sau nầy, nhớ lại thì nghi có bàn tay chánh quyền trong đó. Bởi “ngày mai”, hôm sau, có nghĩa là chẳng bao giờ. Phần ông Thế, ông vội vã cho ra thông cáo số 2 để “trấn an” sinh viên và dư luận. Nội dung thông cáo số 2 cho hay “những chứng chỉ Đại học khóa hai sẽ tiếp tục thi và ngày tựu trường sẽ định sau khi thi xong. Đặc biệt là các thông cáo số 1 và số 2 của ông viện trưởng Thế đều có sao gữi “Thiếu tướng Tư lệnh quân khu I” cả.

– Anh em sinh viên hẵn ngày ấy cũng hoạt động mạnh để “trả lời” lại ông tân viện trưởng?

– Mạnh hơn bao giờ hết. Và cả hai phe!

– Hai phe?

– Có gì mà anh lấy làm lạ. Một phe chống áp bức, bạo tàn, thì viết lại thông cáo của chúng tôi đem đi dán khắp phố phường. Nhóm bị mua chuộc thì hoặc viết lên thông cáo kia hai chử “Đả đảo” to tướng, hoặc đi rãi truyền đơn chống lại thầy, chống lại bạn.

– Những phần tử này chỉ chống lại các anh hay có còn làm gì khác?

– Làm gì thì chưa thấy nhưng nói thì rõ ràng lắm. Họ doạ… bằng chữ rằng chúng tôi là bọn phản dân, phản nước, không sớm quay về với chánh nghĩa quốc gia thì họ sẽ đâm lủng ruốt, họ sẽ chặt đầu. Họ đã hăm dọa ngay trên đài phát thanh bằng cách chỉ tên những giáo sư đã hướng dẫn sinh viên biểu tình và cho là phản động.

Không khí căng thẳng hơn lúc nào hết nên chúng tôi sắp đặt cho người vào Đà Nẵng mời cha Luận về Huế ngay.

– Còn như trường hợp linh mục không thể về hay không muốn về?

– Thì cha đừng kí vào bất cứ giấy tờ gì.

– Bởi vì…

– Bởi vì cha thì rất thực thà. Mà họ thì rất điêu ngoa.

Nhưng rồi ba giờ đêm ấy chùa chiền bị tấn công. Nhà tôi ở trên đường đi đến chùa nên tôi nghe rõ cả tiếng mõ, tiếng chuông, tiếng kêu cầu cứu. Đồng bào ở quanh chùa bèn đánh mõ đánh thùng thiếc để báo nguy. Đợt xung phong đầu, cảnh sát chiến đấu bị thanh niên, sinh viên, học sinh và các đạo hữu trong chùa dùng gậy, củi đẩy lui.

Lúc ấy họ chưa được lịnh bắn. Nhưng rồi tiếng súng đầu tiên nổ. Em anh Trí đi xe vêlô lại báo tin nhà anh Trí đã bị bắt cóc, rồi hối hả đạp xe đến các nhà anh khác.

– Anh có ý nghĩ thoát thân chăng?

– Ngay lúc đó thì có. Tôi nghĩ đến tòa Lãnh sự Mĩ, ở cách nhà tôi độ 200 thước. Nhưng rồi xét lại, tôi trốn không có lợi. Chỉ thoát được thân mình. Đã làm thì chịu trách nhiệm. Mười lăm phút sau khi em anh Trí báo tin, thì nhà tôi bị bao vây. Chúng kêu mở cửa. Lúc ấy là 4 giờ sáng. Tôi không cho mở, cố ý để họ mất thì giờ và buộc họ dùng bạo lực. Họ phá cửa trước không được họ phá cửa sau. Trong lúc đó tôi lo hủy gấp một số tài liệu bằng cách xé ra và nuốt vào bụng, và thu dấu một số tài liệu khác. Lúc họ vô nhà, tôi đứng ở trên lầu lắng tai nghe. Họ vào phòng mấy đứa con tôi và bật đèn hỏi tôi. E họ đánh đập chúng, tôi lên tiếng hỏi họ muốn gì.

Tôi cười:

– Thì họ muốn gì anh dư biết rồi kia mà…

– Ấy đó, mà họ hỏi lại tôi ”Đây có phải nhà ông Lê Trọng Vinh không?”.

– Thế là họ lộn nhà. Nhưng tốp tìm anh họ lại đi đâu?

– Sau, hỏi ra, thì tốp đó về làng tìm tôi ở Kẻ Vạn. Họ tưởng tôi không dại gì ở ngay giữa Huế.

– Rồi họ bỏ đi?

– Không. Họ đòi tôi đưa thẻ căn cước. Họ xuống lầu nói với xếp họ đây không phải nhà Lê Trọng Vinh mà là nhà Lê Tuyên. Người nầy “À” lên, “Lê Tuyên cũng có tên trong sổ!”.

Ông ta mời tôi xuống. Tôi lúc đó mặc đồ bi da ma, xin trở lên lầu thay đồ thì ông ta lắc đầu, bảo cấp trên mời tôi đến hỏi chuyện riêng một chút rồi về. Họ đưa tôi đến nha cảnh sát. Tôi là người thứ sáu được Chánh quyền “mời đến hỏi chuyện riêng”

– Anh có thể cho biết năm người đến trước?

– Ba bạn đồng nghiệp: Trí, Trường, Nam; một giáo sư trường Quốc học và ông hiệu trưởng trường tư thục Bồ Đề.

– Chưa có anh Quyến?

– Mãi đến 8 giờ, anh Quyến mới bị bắt.

– Về vụ anh bác sĩ Quyến bị bắt, tôi có biết một anh bạn cũng bác sĩ rất khổ tâm về vụ này. Tiện đây, tôi xin kể lại cho anh nghe.

Người bạn của tôi còn trẻ, ở ngoại quốc về không bao lâu. Anh được bổ làm giám đốc một bịnh viện nọ ở lục tỉnh. Khi hay tin người bạn đồng nghiệp ở Huế bị Chánh quyền bắt ngang rồi tống giam chẳng đưa ra tòa án xét xử, anh rất đỗi bất bình, và vì còn trẻ, vì về nước chẳng lâu, anh trông ngóng các bậc đàn anh, giám đốc các bệnh viện trong toàn quốc lên tiếng phản đối vụ bắt giam trái phép này để tỏ tình liên đới, và anh tưởng thế nào rồi các bậc ấy sẽ có đơn từ chức, thì hạng đàn em như anh sẽ sẵn sàng để trả chức. Nhưng uổng công anh ngóng trông và dò hỏi. “Sống chết mặc… mày!”. Anh không thể làm gì hơn là bực dọc với mình và khinh các “bậc đàn anh” ấy. Anh ấm ức nói với tôi sau đó một tháng: “Anh tưởng tượng nếu giám đốc tất cả bệnh viện trong nước đều từ chức một lượt để phản đối chuyện anh Quyến thì cuộc đời chắc chẳng êm rơ như thế nầy, và “họ” cũng bớt khinh bọn trí thức chuyên việc “cứu nhơn độ thế”.

– Anh Quyến biết được việc nầy chắc anh được an ủi nhiều lắm. Chính tôi sau nầy rất buồn cho cái giới trí thức nước nhà, trong đó có mình! Cọng sản họ khinh, họ Ngô xem rẻ, rồi đến lớp trẻ xem thường là đáng lắm. Không dám lãnh trách nhiệm, chẳng dám có sáng kiến, cứ đùn trách nhiệm cho cấp trên, cứ tưởng mình khôn ngoan thận trọng nhưng thật ra nhút nhát và hèn nhát hơn ai!

– Chắc ngoài anh em trong giáo giới, còn các tăng ni, sinh viên, học sinh?

– …và Hướng Đạo nữa. Chiều, thêm một số ít đồng bào.

– Số người bị bắt ngày 21 ấy chắc là đông lắm.

– Tôi phỏng độ ngàn người. Họ nhốt vào hội trường của nha cảnh sát, vốn chứa ngày thường được ba trăm người là nhiều.

– Nhốt chung như thế, các anh lúc ấy có hiểu lí do cuộc bắt bớ nầy chăng?

– Chưa một ai hiểu. Chỉ phỏng đoán có lẽ là một vụ Saint Barthélémy mới, mà nạn nhân không phải là người theo đạo Phản Thệ (Tin Lành) mà là Phật giáo đồ. Chúng tôi bàn với nhau: Nhất định không rút đơn từ chức. Nhưng nếu Chánh phủ giải quyết trong vòng danh dự đôi bên, trưng dụng chúng tôi thì chúng tôi làm việc lại.

– Các anh bắt đầu… bi quan chưa?

– Trái lại là khác. Trọn ngày 21, chúng tôi lạc quan, mà ai bị bắt cũng lạc quan như chúng tôi. Hẳn là Sàigòn đã xảy ra gì quyết liệt nên ở đây họ mới dùng biện pháp thất nhân tâm nầy. Mà nếu chưa có gì xảy ra hôm nay thì cũng có cái gì xảy ra ngày mai ngày mốt: Phải bắn phá chùa chiền, bắt bớ sư vãi trí thức sinh viên như thế ni, là báo hiệu cơn giãy chết của chế độ. Riêng chúng tôi thì nghĩ: Mình thất một trận đánh nhưng rồi mình thắng cả trận giặc.

Trưa hôm sau – thứ năm 22-8 – người ta mời anh Quyến đi. Năm phút sau, đến phiên tôi. Tôi theo người dắt đi vô một hành lang tối om. Một người cảnh sát chiến đầu chờ sẵn, dí súng lục vào bụng tôi và bảo tôi cởi quần áo ra. Tôi bảo tôi không có mặc đồ lót. Anh ta cau mặt rồi giữ áo quần cùng gương trắng, anh ta ra lịnh vô một cái phòng. Tôi vừa để chân vào xà lim thì anh ta to tiếng chửi…

– Anh ta chửi có chút gì… văn chương không?

– Văn chương thì không, mà tục tằn cũng không nốt. Chỉ có điều trắng trợn.

– Vậy xin anh lập lại… Cũng là một tài liệu!

– “Tài liệu” nầy có hai đoạn. Đoạn đầu, thông thường; Đoạn sau, thật là bất ngờ. Bất ngờ đối với tôi. Tôi xin lập lại:

“Đồ Việt gian, đồ phản động, đồ Cộng sản! Tụi bây thắng thì tụi bây cắt cổ tụi tau, còn tụi tau thắng thì tụi tau cắt cổ tụi bây!”.

Rồi hắn đóng sầm cửa xà lim, khóa và niêm lại. Khoảng một giờ sau, họ mang cho tôi một cái thùng sắt tây sét rỉ để tôi đi ngoài.

– Anh bị nhốt xà lim mấy ngày?

– Năm tuần.

– Cơm nước ra sao, anh?

– Ngày hai dĩa cơm nửa chín nửa sống với một ít xì dầu.

– Anh ăn được chớ?

– Lần đầu, tôi đành chịu. Nhưng rồi cố nhắm mắt. Còn nước thì họ cho mỗi ngày một chai, thứ chai xa xị đó, để dùng trọn ngày trong một lúc cho đủ mọi thứ, uống, rửa tay, rửa mặt v.v… Xuít nữa tôi quên, họ có để cho tôi đôi dép Nhật để đi. Tôi không đi mà dùng chúng để gối đầu. Nền xi măng lâu đời bể vụn, nằm khó chịu vô cùng. Chẳng dám lăn vì lăn thì rách da.

– Trong 5 tuần xà lim ấy, chắc anh không giữ một kỉ niệm nào êm ấm cả?

Mắt anh chớp chớp:

– Có, anh à. Đời thỉnh thoảng cũng dành cho mình đôi cái bất ngờ sung sướng đến có lúc mình ngờ mắt ngờ tai. Đêm thứ ba, phiên gác vừa đổi, tôi nghe có tiếng gõ cửa. Tôi thức mà làm thinh. Có tiếng gọi khe khẽ: “Thầy! Thầy…”, rồi một một miếng giấy khá lớn được chuồi vào dưới khe cửa. “Em là một Phật Tử đây thầy; thầy lấy giấy nầy để lót lưng cho đỡ đau đỡ lạnh. Đến 5 giờ sáng đổi phiên gác, em gõ cửa, thầy chuồi miếng giấy ra cho em kẻo chúng nó bắt gặp thì chết thầy, chết em”. Và, sau đó, hễ tới phiên gác của người lính Phật Tử mà tôi không biết tên, biết mặt là lưng tôi được “sướng” mấy giờ.

Chúng tôi bị bắt sáng thứ tư 21-8, thì đến chủ nhật 25-4 họ tha gần hết, còn có 5 người trong ban chỉ đạo: Các anh Trường, Hanh, Huân, Quyến và tôi, cùng với anh Võ Như Nguyện thuộc viện Hán học. Anh Nguyện lãnh đạo phong trào ở viện nầy.

– Bốn anh kia cũng bị nhốt xà lim như anh?

– Chỉ có mình anh Quyến và tôi vì chỉ có hai xà lim. Ba anh kia được nằm ghế bố có mùng.

– Còn các anh chỉ đạo anh chị em sinh viên?

– Ba anh Giàu, Thơ, Bính thì vẫn bị giam cạnh đấy.

– Ngày đầu, đêm đầu nằm xà lim, chắc anh khổ sở lắm?

– Khổ sở và mất hết tinh thần. Vì hoàn cảnh thay đổi quá đột ngột và quá khác. Nhưng rồi cái gì cũng quen đi, và nói như ai đó, con người là con vật dễ thích nghi với hoàn cảnh nhất. Đến ngày thứ sáu thấy bớt khó chịu nhiều, qua ngày thứ bảy thì thấy như thường.

Tôi nhìn anh chăm chú và hỏi:

– Đố anh biết tại sao ngày thứ bảy anh chẳng thấy khó chịu?

Anh đẩy gọng kính, nhìn lại tôi. Tôi nói vì Đức Chúa Blời tạo ra cái thế giới nầy trong sáu ngày thôi. Qua ngày thứ bảy, Ngài bèn xoa tay mà đi nghỉ vậy! Anh cười.

Tôi hỏi:

– Anh có tìm được cách gì để giết thì giờ không?

– Được hai cách. Một là gỡ những miếng xi măng vụn dính vào người, hai là hát nghêu ngao…

– Mấy ngày sau họ mới thẩm vấn anh?

– Năm ngày sau. Buồn cười một nỗi là những kẻ thẩm vấn tội trạng lại là cán bộ Việt Minh cũ.

– Có gì lạ đâu anh. Sau khi phụng thờ một chế độ hết sức duy vật thì họ lại phụng sự một chính thể cực kỳ… duy linh! Những cái cực đoan rồi sẽ đụng nhau! Chắc họ hỏi anh về đêm?

– Đúng vậy. Từ 9 giờ tối đến 4 giờ sáng. Họ thường dựng đứng tôi trong khoảng ấy. Như tôi đã nói với anh, tôi không bị tra tấn, họ nói với tôi rất ư lịch sự.

– Và những khi đó, họ cho anh…

– Phải, họ cho tôi mặc quần áo, đưa gương cho tôi mang đàng hoàng.

Họ hỏi khéo léo lắm, định dồn chúng tôi phải nhận ba điều nầy: Có liên lạc với Phật giáo; có liên lạc với tòa lãnh sự Mĩ; định từ chức trước lúc cha Luận bị cách chức. Mục đích của họ là cố gài tôi gián tiếp nhận để đưa tôi ra tòa án Quân sự. Nhưng tôi trước sau vẫn trả lời: Không.

– Họ hỏi anh từ…

– Từ 20-8 đến 20-10. À, có lúc họ hỏi tôi luôn ba đêm liền. Mệt là mệt. Có khi họ cho nghỉ vài đêm rồi kêu hỏi lại. Sau, Sàigòn có gởi một phái đoàn ra hỏi nữa.

– Như thế, những lúc quá mệt, anh có khi nào trả lời cho rồi để về ngủ cho khỏe!

– Không khi nào. Vì mình biết họ cố ý hỏi mình trong lúc nửa tỉnh nửa mê, làm cho tinh thần mình căng thẳng tột độ để mình không làm chủ được mình nên tôi hết sức giử vững tinh thần. Không là không.

– Thế thì kết quả…

– Kết quả là họ đách cần mình khai ra sao. Họ tự tiện dựng đứng hồ sơ mình để đi đến kết luận: Mình đã chống đối và khuynh đảo Chính phủ thì Tòa án Quân sự ! Và là Tòa án Quân sự Mặt trận nghĩa là không có quyền có luật sư, không có kháng cáo, bản án được thi hành ngay.

– Mấy anh kia có ai cũng một cảnh đoạn trường như anh không?

– Có. Đó là Thượng tọa Thích Trí Thư, bác sĩ Lê Khắc Quyến, anh Võ Như Nguyện (ở viện Hán học) và hai anh sinh viên Võ Văn Thơ và Hoàng Văn Giàu.

– Sao anh biết họ dựng đứng hồ sơ anh và các người anh vừa kể? Vì các anh chưa bị tòa án Quân sự xử.

– Tôi biết vì chính mắt tôi thấy những tài liệu buộc tội ấy. Họ có đốt đi nhưng còn sót.

Tôi xin kể tiếp. Đến tuần thứ năm tôi bị ho ra máu, họ bèn đưa tôi ra ở ngoài. Tôi xin đi bịnh viện họ không cho. Hai bác sĩ đến khám tôi đều yêu cầu ông giám đốc cho tôi đến bịnh viện để rọi kiếng. Ông giám đốc không cho là không cho. Ông ta yêu cầu cho tôi thuốc solucamphre mà không cho phép nói ra ngoài là tôi đau bịnh chi, chắc là sợ người ta bảo tôi vì bị giam mà ho ra máu.

– Anh có làm bạn với con rệp, con muổi nào trong thời ở xà lim không?

– …

– Tôi có vài người bạn cũng bị nhốt xà lim như anh, cũng trong vụ chống chế độ cũ vừa qua. Các anh ấy bảo lần đầu trong đời phải chịu cảnh cô độc hoảng sợ vô cùng, Cho nên bất cứ có sự sống nào hiện diện là các anh bám ngay. Và chính do nhu cầu quá cần thiết này mà các anh làm chủ được phản ứng đập liền rệp, muổi hút máu mình. Các anh sung sướng để chúng tha hồ hút máu các anh. Nuôi chúng sống để thấy ngoài mình còn có một sinh vật đại diện cho sự sống trong cái cảnh địa ngục giữa trần gian ấy.

Tôi lại đi xa đề mất! À, anh vẫn bị nhốt ở nha Cảnh sát cho tới ngày đảo chánh thành công?

– Ngày phái đoàn Liên Hiệp Quốc ra Huế để điều tra – tức là ngày thứ tư 30 tháng 10 – họ đưa tôi đến Cơ quan đặc biệt Phản gián, chung quanh chôn mìn sẵn và bố trí như một pháo đài. Tới đây, tôi thấy hai anh Nguyện, anh Quyến, và bất ngờ hơn hết là sau hai năm mất tăm dạng, anh Dương Kỵ ngồi ung dung gọt cà rốt!

Họ dặn chúng tôi phải nói với phái đoàn Liên Hiệp Quốc là chúng tôi bị giam ở đây là vì có tội với Chánh phủ. Phái đoàn có hỏi tội gì thì trả lời không được biết. Điều quan trọng là nói không có kì thị tôn giáo ở nước Việt.

Nhưng khi họ đưa anh Bính (còn là tổng thư kí đoàn Sinh viên Phật tử) gặp phái đoàn thì anh Bính nói toạc ra tất cả sự thật. Vì thế họ miễn cho chúng tôi màn kịch ấy.

Rồi 8 giờ rưỡi ngày 2 tháng 11, họ cho gọi anh Lê Mộng Đào, anh Võ Văn Thơ, chị Cẩm Hà (một nữ sinh) và tôi. Thiếu tá giám đốc nhân danh Hội đồng Quân nhân Cách mạng cám ơn chúng tôi đã tích cực tham gia vào việc lật đổ chế độ thối nát và bạo tàn của họ Ngô Đình, và xin trả lại tự do cho chúng tôi. Chúng tôi nghe vậy mà chẳng hiểu ất giáp gì. Tôi lững thững về Đại học Sư phạm, tức Morin cũ.

– Sao anh không về nhà trước?

– Vì nhà tôi ở xa. Tới viện, thấy sinh viên đã tụ họp sẵn để đi rước chúng tôi. Chừng ấy tôi mới biết đầu đuôi tự sự. Được biết còn các anh Quyến, Nguyện, Giàu, Bính chưa được thả, anh chị em sinh viên bèn kéo đi đón.

Anh thở dài như trút xong một gánh nặng.

– Thế là anh mất tự do tất cả là…

– …73 ngày.

– Trong 73 ngày giam cầm ấy, có ngày nào anh cảm thấy xót xa nhất?

– Đó là ngày chủ nhật 25-8, ngày tôi được nghe một bạn đồng nghiệp từng sát cánh đấu tranh với mình nói qua đài phát thanh tố cáo mình là một tên lưu manh trí thức. Tôi cũng có biết vài bạn yếu bóng vía, có vài hành động phản bội, tôi chỉ buồn thôi chớ không có xót xa tận đáy lòng như khi nghe anh bạn kia buộc tội qua làn sóng điện. Nhất là họ mở ra-đi-ô cho mình nghe từ 6 giờ sáng đến 10 giờ tối, mục đích để khủng bố tinh thần mình.

– Ra rồi, anh có nghe gì về việc đưa anh ra toà án Quân sự?

– Có sắc lệnh kí từ lâu để mở những tòa án Quân sự đặc biệt, nhưng chưa có vùng chiến thuật nào mở. Nếu không có cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm rồi thì tôi sẽ “được” tòa án Quân sự xử vào ngày 6 tháng 11. Mà như anh biết, bị đưa ra tòa nầy thì hoặc được tha bổng hoặc bị xử tử. Tội của tôi, thật ra, thì chỉ có một là không đưa kiểm duyệt ấn phẩm trước khi phổ biến, một tội về mặt hộ. Nhưng mà khi người ta không muốn mình sống thì không có tội gì cũng phải chết, huống chi là có một tội.

Vụ đưa ra tòa án Quân sự ngày 6 là thời bình. Chớ vào đêm thứ sáu mùng 1, lúc 22 giờ – sau khi tiếng súng cách mạng nổ được 8 tiếng rưỡi đống hồ, thì tại dinh ông Cẩn, Hội đồng Quân sự đã họp và lên án xử tử anh Quyến, anh Nguyện, một số sinh viên (Giàu, Thơ, Bính) và tôi. Gặp thời “loạn”, người ta có thể hành quyết chúng tôi lúc nào cũng được. Nhưng một giờ sau, tướng Đỗ Cao Trí tuyên bố đứng bên phe cách mạng, ra lịnh ngưng thi hành tất cả mạnh lịnh của chánh phủ cũ…

– Thế là mạng anh lớn lắm!

Anh cười nhẹ, cúi nhìn lòng bàn tay trái.

– Được tự do, anh vui. Nhưng hẳn sau đó, anh cũng được nghe thấy vài điều buồn.

Anh im lặng một đỗi.

– Tôi xin kể vài trường hợp điển hình. Trước hết, về cá nhân.

Chúng tôi có được tờ truyền đơn từ Genève gởi về cho biết Chánh phủ Ngô Đình Diệm sẽ bị lật đổ và ông Bữu Hội sẽ đứng ra lập chánh phủ mới. Bữu Hội là dân Huế, lại là Phật Tử, lại có truyền đơn kia nên khi ông ta về Huế trong hai ngày, anh Quyến đã gặp Bữu Hội để nói rõ sự thật về vụ đàn áp Phật giáo ở Huế cho ông ta biết, cùng những dự định của nhóm chúng tôi để mong ông giúp đở vế mặt tinh thần.

Anh Quyến mời nhà bác học nầy về nhà đãi cơm và giãi bày tất cả những thống khổ của một nhóm người có học. Chẳng dè về Sàigòn, ông ta mách lại với ông Nhu tất cả!

– Có bằng chứng gì về sự phản bội lịch sử trí thức nầy không?

– Chính một nhân vật trong chính phủ cũ – xin anh miễn cho tôi việc nói tên vị nầy – đã nói lại với chúng tôi. Và đã thêm: “Bữu Hội nó bán đứng anh em lấy 80.000 đô-la qua Tây ăn hút, tưởng thế cũng quá lắm rồi. Nào ngờ nó còn mặt dạn mày dày đi New York nói láo nói khoét nữa. Tôi không ngờ nó lại hèn đến thế!”

– Còn trường hợp cá nhân nào nữa không anh?

– Còn. An ninh quân đội có bắt được một số tài liệu của chúng tôi. Họ đem ra nghiên cứu. Một nhân viên reo lên: “Thằng cha Tuyên tới số rồi! Phen nầy nó chạy đâu cho khỏi chết. Giọng của nó đây này. Tao còn lạ gì, tao học với nó mấy năm!”.

– Ai nói lại với anh?

– Em tôi. Nó làm chung một chỗ với người học trò cũ nọ. Tôi kể tiếp: Một sinh viên ở Đại học Sư phạm dán truyền đơn xin thả tôi, bị bắt bị tra điện. Nay chưa trở lại bình thường…

– Anh cho biết đôi trường hợp tập thể.

– Một phái đoàn của bộ Giáo dục và giáo sư Đại học Sàigòn ra Huế ngày 25-8-63 (ông Trình và ông Thới cầm đầu), lên án thái độ chúng tôi, bắt anh em làm kiến nghị dâng lên Tổng thống, gián tiếp buộc tội chúng tôi.

– Tôi còn nhớ kiến nghị nầy, trong đó có đoạn bất hủ: “… nhớ ơn cao dày của Tổng thống”.

– Giáo sư Đại học Sàigòn làm chúng tôi thất vọng đến ê chề. Họ không có một phản ứng gì khi chúng tôi từ chức, khi chúng tôi bị bắt. Tuy vậy, chúng tôi còn hiểu họ. Chớ họ chẳng một lời gì tỏ tình thông cảm khi chúng tôi được tự do – sau khi chế độ họ Ngô bị lật đổ – thì quả là chúng tôi không hiểu họ nổi. Có khi chúng tôi nghỉ: “Nếu giáo sư Đại học Sàigòn mà lên tiếng ủng hộ lập trường của chúng tôi thì biết đâu…”. Thú thật với anh, lúc mới về tôi tính phớt qua…, nhưng càng lâu lại càng thấy khó chịu, nhưng mà muốn sống thì phải quên…

– Anh làm tôi nhớ lời một người bạn ở viễn phương: “Tôi có thể tha thứ nhưng tôi không thể quên”. Nhưng sau cơn “mưa gió” hẳn giờ anh có gì khác trước trong cuộc sống?

– Tôi trở nên dè dặt trong việc giao tế. Và tôi hạn chế sự giao thiệp. Trước kia tôi cởi mở, giờ đây tôi giữ gìn. Đó là một kinh nghiệm, theo anh, hay hay dở?

Tôi không trả lời anh, nâng tách nước trà bây giờ nguội như nước lạnh:

– Giờ, chúng ta có thể uống nước.

12 tháng chạp, Qúy Mão 64 Nguiễn Ngu Í

Nguồn: Tạp chí BÁCH KHOA (số 171 & 172 ngày 15/2 & 1/3/1964)

— — — oOo — — —

Ghi chú:

(1) Anh có chân trong Hội Đồng Nhân Sĩ.

(2) Rằm tháng 4 năm Quí Mão (nhằm ngày thứ tư, 8 tháng 5 năm 1963).

(3) “Nghĩa địa đầy những kẻ cho mình không ai thay thế được”.

 

980 lượt xem